Mục lục:
1/ Quá trình hình thành nhà nước-pháp luật. Đặc điểm con đường hình thành nhà nước ở phương Đông. 3
2/ Tiền đề kinh tế – xã hội dẫn đến sự tan rã xã hội cộng sản nguyên thủy và sự hình thành nhà nước và pháp luật 5
3/ Quy luật chung và những nét đặc thù về sự ra đời nhà nước ở phương Đông và phương Tây thời cổ đại 6
4/ Đặc trưng cơ bản của nhà nước và pháp luật phương Đông cổ đại 6
5/ Điểm khác biệt cơ bản giữa nhà nước và pháp luật phương Đông và phương Tây cổ đại 7
6/ Trình bày cơ sở kinh tế – xã hội của sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước phương Đông cổ đại 8
7/ Nhà nước Trung Quốc cổ đại 8
8/ Pháp luật Lưỡng Hà cổ đại 11
9/ Nội dung và giá trị cơ bản của bộ luật Hammurabi: 12
10/ Trình bày nét tương đồng và khác biệt giữa bộ luật Hammurapi và Manu. 13
11/ Trình bày cơ sở kinh tế – xã hội cho sự ra đời của Nhà nước Phương Tây cổ đại. 14
12/ Nhà nước Hy Lạp – La Mã thời cổ đại 14
13/ Nhận xét tính dân chủ của nhà nước Aten: 20
14/ Trình bày những nét cơ bản về quá trình dân chủ hóa nhà nước Aten( qua 3 cuộc cải cách của XoLong, Cixten, Periclet) 21
15/ Nêu các bộ phận cấu thành cơ bản của nhà nước Cộng hòa dân chủ chủ nô Aten: 23
16/ So sánh và chỉ ra nét khác nhau cơ bản của Nhà nước Xpac và Nhà nước Aten (Hy Lạp cổ đại) 23
17/ Nhận xét quan điểm cho rằng:” Hệ thống pháp luật luật La Mã là hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhất của nhà nước chiếm hữu nô lệ”. 24
18/ Tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến Trung Quốc triều đại Tần, Đường, Minh. 25
19/ Trạng thái phân quyền cát cứ của nhà nước phong kiến Tây Âu 28
20/ Tính không thống nhất của pháp luật phong kiến Tây Âu. 29
21/ Trình bày những điều kiện kinh tế – xã hội của sự ra đời và tồn tại nền quân chủ phân quyền cát cứ ( từ thế kỉ IX đến thế kỉ XV) ở Tây Âu thời Phong kiến. 30
22/ Trạng thái phân quyền cát cứ ở Tây Âu thời phong kiến có ảnh hưởng như thế nào đến tổ chức bộ máy nhà nước 31
23/ Phân tích những điều kiện kinh tế – xã hội dẫn đến xác lập nền quân chủ chuyên chế ở Tây Âu thời kỳ phong kiến. 31
24/ Phân tích những điều kiện kinh tế – xã hội dẫn đến sự xuất hiện chế độ tự trị của các thành thị ở Tây Âu thời kỳ phong kiến. 32
25/ Phân tích những điều kiện kinh tế – xã hội dẫn đến sự xuất hiện của chế độ đại diện đẳng cấp ở Tây Âu thời kỳ phong kiến. 33
26/ Nhà nước tư sản Anh thời cận đại (thời kỳ CNTB tự do cạnh tranh) 34
27/ Nhà nước tư sản Mỹ thời cận đại 36
28/ Nội dung và ý nghĩa của hiến pháp tư sản Mỹ năm 1787 39
29/ Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước tư sản Mỹ sau cách mạng tư sản 39
30/ Lý giải nguyên nhân nhà nước Mỹ tổ chức theo hình thức chính thể cộng hòa Tổng thống. 40

1/ Quá trình hình thành nhà nước-pháp luật. Đặc điểm con đường hình thành nhà nước ở phương Đông.

1. Quá trình hình thành Nhà nước

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc nhà nước.
Theo thuyết Thần học, cho rằng nhà nươc là do thượng đế sinh ra để quản lý xã hội, quyền lực nhà nước là vĩnh cửu và vô tận nên việc phục tùng quyền lực ấy là cần thiết và tất yếu.
Theo thuyết khế ước xã hội, nhà nước là một sản phẩm của một bản hợp đồng(khế ước) giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước. Khi đó, nhà nước phải phục tùng xã hội, phục vụ mọi thành viên của xã hội. Khi nhà nước không thực hiện được chức năng của nó, các thành viên trong xã hội sẽ huỷ bỏ khế ước cũ lập ra một khế ước mới, một nhà nước tiến bộ hơn sẽ ra đời.
Ngoài ra còn có thuyết gia trưởng, thuyết tâm lý, thuyết bạo lực…
Theo học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhà nước ra đời trên cơ sở của sự tan rã chế độ công xã nguyên thuỷ. Có hai nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ, đó là sự xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất (nguyên nhân kinh tế) và sự mâu thuẫn giữa hai giai cấp đối kháng trong xã hôị, mâu thuẫn này ngày càng trở nên gay gắt đến mức không thể điều hoà được nữa (nguyên nhân xã hội).
Chế độ công xã nguyên thuỷ, thị tộc, bộ lạc, bào tộc là cách thức tổ chức đầu tiên của loài người trong buổi bình minh. Trong chế độ công xã nguyên thuỷ, mọi người đều bình đẳng như nhau trong lao động và hưởng thụ, trong quyền lợi và nghĩa vụ. Khi lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến năng suất lao động ngày càng tăng lên, đặc biệt khi có công cụ lao động bằng kim loại xuất hiện cùng với những kinh nghiệm đã tích luỹ được đã tạo nên bước phát triển nhảy vọt trong trồng trọt và nghề thủ công. Dẫn đến sự phân công lao động lần thứ nhất, trồng trọt tách khỏi chăn nuôi. Sau đó, các nghề thủ công cũng phát triển mạnh tạo ra sự phân công lao động lầ thứ hai : thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp. Sau hai lần phân công lao động, xã hội đã có sự phân tầng. Sự chuyên môn hoá của các ngành sản xuất đã làm cho nhu cầu trao đổi hàng hoá giữa các bộ phận dân cư ngày một tăng cao. Điều này dẫn đến sự phân công lao động lần thứ ba, giao lưu hàng hoá tăng nhanh và thương nghiệp xuất hiện. Sau lần phân công lao động thứ ba này, xã hội đã bị phân hoá một cách sâu sắc. Do sự phân công lao động nên các ngành kinh tế phát triển mạnh, làm cho sản phẩm lao động ngày càng nhiều lên dẫn đến dư thừa. Lúc này trong xã hội đã xuất hiện một số người có quyền lực công nhiên đi chiếm đoạt phần sản phẩm dư thừa đó và biến nó thành của riêng. Chế độ tư hữu về tài sản dần dần xuất hiện. Những người này dần dần trở thành những người chuyên đi bóc lột còn bộ phận đông dân cư trở thành những người bị bóc lột cả về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Chế độ tư hữu ngày càng được củng cố và phát triển tất yếu dẫn đến việc hình thành các tập đoàn người trong xã hội có địa vị kinh tế khác hẳnh nhau đó là tập đoàn những người giàu có (chủ nô), tập đoàn nông dân-thợ thủ công với chút ít tài sản (bình dân) và tập đoàn thứ ba là tù binh chiến tranh và nô lệ (nô lệ).
Mâu thuẫn giữa giai cấp bóc lột và bị bóc lột ngày càng trở nên gay gắt, làm cho chế độ công xã nguyên thuỷ trước đây với thị tộc, bộ lạc không thể kiểm soát, quản lý xã hội được nữa, mà cần một tổ chuác mới ra đời, đó chính là nhà nước.Nhà nước ra đời, đó là sự thay đổi hẳn về lượng. Đó là một bộ máy bạo lức, gồm có quân đội, cảnh sát, nhà tù…để đàn áp những người lao động.
2. Quá trình hình thành pháp luật

Pháp luật ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước, đó là một điều tất yếu khách quan. Xét về phương diện chủ quan, pháp luật do nhà nước đề ra và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của mình, trở thành một công cụ có hiệu quả nhất để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, nó quản lý xã hội theo mục đích của nhà nước cũng tức là mục đích của giai cấp thống trị.
Trước khi pháp luật xuất hiện, tổ chức thị tộc, bộ lạc quản lý xã hội bằng những phong tục tập quán với bản chất của nó là nguyên tắc bình đẳng giữa các thành viên trong xã hội. Khi nhà nước xuất hiện cùng với việc các quan hệ trong xã hội phát triển vượt bậc cả về bề rộng và chiều sâu, các phong tục tập quán này không còn có thể điều chỉnh được nữa mà cần một loại quy phạm xã hội mới đó chính là pháp luật.
Pháp luật được hình thành bằng nhiều cách với những hình thức khác nhau.
• Con đường thứ nhất là “luật pháp hoá”, “nhà nước hoá”. Nhà nước thừa nhận và nâng lên những tập quán có lợi cho mình. Đó là “ tập quán pháp”. Có tập quán được nhà nước chính thức thừa nhận và đưa vào nội dung bột luật, nhưng cũng cõ những tập quán được nhà nước mặc niên thừa nhận. Như vậy có tập quán pháp thành văn và tập quán pháp không thành văn. Điển hình là ở các nước phương Đông như ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam…
• Con đường thứ hai là do nhà nước ban hành mới. Do nhu cầu điều chỉnh những quan hệ ngày càng phức tạp, phong phú, sâu và rộng mà tập quán pháp không thể điều chỉnh được hết. Pháp luật được tồn tại dưới dạng thành văn và bất thành văn. Pháp luật thành văn ra đời ngay từ khi xuất hiện chữ viết.VD như luật 12 bảng của La Mã cổ đại, bột luật Hammurabi của Lưỡng Hà cổ đại….

3. Đặc điểm con đường hình thành nhà nước ở phương Đông

ở phương Đông, các nhà nước thường được hình thành ở lưu vực những con sông lớn. Điều kiện tự nhiên đã chứa đựng trong đó cả ưu đãi và thử thách. Bất cứ một cộng đồng nào ở đây cũng phải tiến hành công cuộc trị thuỷ và thuỷ lợi. Mặc dù ở phương Đông chế độ tư hưu về ruộng đất gần như không có, xã hội bị phân hoá chậm chạp đồng thời tính giai cấp rất hạn chế và mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng phát triển chưa tới mức độ gay gắt, quyết liệt như ở phương Tây nhưng trong môi trường kinh tế xã hội mới như vậy nhà nước đã phải ra đời. Chính công cuộc trị thuỷ, thuỷ lợi không chỉ là yếu tố duy trì chế độ tư hữu về ruộng đất mà còn là yếu tố thúc đẩy nhà nước phải ra đời sớm. Trước đó tổ chức của công xã thị tộc, với quy mô tổ chức và hiệu lực của nó, không còn đủ khả năng tổ chức công cộng chống lũ và tưới tiêu. Đồng thời nhu cầu tự vệ cũng là một yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình hình thành nhà nước. Nhà nước ra đời sớm, cả về thời gian và không gian, do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đặc biệt của phương Đông.
Trong tất cả phạm vi các cộng đồng, tầng lớp quý tộc lúc ban đầu vốn thực hiện “chức năng xã hội” đảm bảo lợi ích chung của cả cộng đồng, rồi chuyển sang “địa vị độc lập đối với xã hội” và cuối cùng “vươn lên thành sự thống trị đối với xã hội”.
2/ Tiền đề kinh tế – xã hội dẫn đến sự tan rã xã hội cộng sản nguyên thủy và sự hình thành nhà nước và pháp luật

Có nhiều quan điểm về sự hình thành nhà nước
Theo thuyết thần học, nhà nước là do thượng đế sinh ra để quản lý xã hội
Theo thuyết khế ước xã hội, nhà nước là sản phẩm của 1 bản hợp đồng của những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước. Khi nn k thực hiện tốt chức năng của nó thì các thành viên ấy phá bỏ khế ước cũ và lập khế ước mới, nn mới ra đời.
Còn theo quan điểm của cn Mác-Leenin, nhà nước ra đời trên sự tan rã của xã hội cộng sản nguyên thủy:
Tiền đề kinh tế:
Khi lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến năng suất lao động ngày càng tăng lên
Qua 3 lần phân công lao động – Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt
-Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp
-Thương nghiệp phát triển
Của cải dư thừa => các tiểu gia đình tách khỏi đại gia đình, muốn cuộc sống tốt hơn cho 1 số ít người, không phải làm vì cả cộng đồng nữa => xuất hiện tư hữu về tư liệu sản xuất do một số người có quyền lực chiếm đoạt để tách ra thành gia đình riêng => trở thành những người chuyên đi bóc lột
Tiền đề xã hội:
Những người tư hữu về tư liệu sản xuất đó trở thành những người chuyên đi bóc lột. Từ đó hình thành nên các tầng lớp và giai cấp có địa vị kinh tế khác hẳn nhau :
Chủ nô (chiếm nhiều của cải + tư hữu tư liệu sản xuất)
Bình dân (chỉ có 1 ít của cải)
Nô lệ( tù binh chiến tranh và những nông dân phá sản)
Mâu thuẫn giữa giai cấp bóc lột và bị bóc lột ngày càng tăng, đến mức đỉnh điểm không thể tự điều hòa được => Giai cấp mạnh hơn sẽ đứng lên cầm quyền, trấn áp các giai cấp khác và quản lý theo ý chí của họ. Họ thành lập 1 tổ chức là nhà nước để điều hòa mâu thuẫn ấy.
Pháp luật hình thành khi nhà nước ra đời, là công cụ của nhà nước bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Trước khi hình thành nhà nước thì phong tục tập quán với bản chất là bình đẳng với các thành viên, nhưng khi xuất hiện giai cấp, xuất hiện nhà nước thì các phong tục này k điều chỉnh đc sự bình đẳng nữa, k phù hợp nữa => PL ra đời.
2 hình thức hình thành PL Thừa nhận, nâng lên những tập quán có lợi cho mình
Ban hành những quy tắc mới.

3/ Quy luật chung và những nét đặc thù về sự ra đời nhà nước ở phương Đông và phương Tây thời cổ đại
Quy luật chung: Ra đời trên sự tan rã của xã hội cộng sản nguyên thủy
Ở phương Tây: do 2 nguyên nhân chính là -Tư hữu tư liệu sx(tiền đề kinh tế)
-Phân chia giai cấp(tiền đề xã hội)
=> mâu thuẫn k điều hòa đc => hình thành nn. PL là công cụ của nn để bảo vệ lợi ích cho mình và quản lý xh.
Ở phương Đông: do công cuộc trị thủy- làm thủy lợi và việc chống ngoại xâm, mở rộng lãnh thổ => thúc đẩy quá trình hình thành nn. (cần người tổ chức,ng đứng đầu: Vua)
PL là do vua ban, cùng với 1 số “tập quán pháp” đã có từ trước

4/ Đặc trưng cơ bản của nhà nước và pháp luật phương Đông cổ đại
Nêu sơ qua về quá trình hình thành nhà nước phương Đông.
Nhà nước phương Đông cổ đại có 4 trung tâm văn minh là Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc.
+) Tổ chức bộ máy nhà nước
Chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền
Cơ cấu tổ chức đơn giản và sơ khai.
Ở trung ương có: vua , quan đầu triều và quan lại giúp việc
Vua là ng nắm toàn bộ đất đai, chủ sở hữu tối cao, là người tổ chức bộ máy nhà nước, bổ nhiệm quan lại, gây chiến tranh hay hòa bình do vua quyết định.
Quan đầu triều:là 1 vị quan hay hội đồng thân tín của nhà vua, nắm giữ các công việc quan trọng.
Quan giúp việc: hệ thống các quan lại cao cấp. Tùy từng nơi, từng thời kì mà có sự phân công nhiệm vụ, quyền hạn.
Về quân đội: Do thường xuyên xảy ra chiến tranh nên phát triển quân đội rất mạnh. Chỉ huy tối cao là nhà vua. Lực lượng quân đội đông và đa dạng.
Ở địa phương tổ chức bộ máy là thu nhỏ của trung ương, sao chép đơn giản.
 Kết luận: Bộ máy nhà nước là bộ máy bạo lực lớn, được thần thánh hóa nhằm bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị một cách triệt để.
+)Pháp luật phương Đông
Vì nhà nước và PL có mối quan hệ chặt chẽ nên khi nhà nước ra đời thì giai cấp cầm quyền cũng đồng thời ban hành PL.
2 bộ luật lớn ở phương Đông thời cổ đại là bộ luật Hamurapi(Lưỡng Hà) và bộ luật Manu(Ấn Độ). Đặc điểm cơ bản của pháp luật Phương Đông cổ đại là:
– Công khai thừa nhận sự bất bình đẳng trong xã hội. Bảo vệ quyền lợi và địa vị của giai cấp thống trị.
– Thừa nhận sự bất bình đẳng trong quan hệ gia đình giữa vợ và chồng, giữa các con với nhau do ảnh hưởng của chế độ gia trưởng.
– Ranh giới giữa hình sự và dân sự mờ nhạt, các hình phạt hà khắc và nặng nề về cả mặt tâm lý và thân thể.
– Bị ảnh hưởng bởi tôn giáo, lễ giáo và tư tưởng thống trị.
– Về hình thức, từ ngữ cụ thể, có tính hệ thống.
5/ Điểm khác biệt cơ bản giữa nhà nước và pháp luật phương Đông và phương Tây cổ đại
a/Nhà nước:

Phương Đông Phương Tây
-Các nhà nước ra đời sớm ở lưu vực các con sông lớn. -Nhà nước ra đời muộn,hình thành trên các bán đảo.
-Thuận lợi pt nông nghiệp. – K thuận lợi pt nông nghiệp mà thuận lợi pt thủ công nghiệp, thương nghiệp.
-Kinh tế hàng hóa chậm pt nên ko có trung tâm kinh tế lớn. -Pt thương nghiệp nên xh thành thị, trung tâm lớn.
-Ruộng đất thuộc quyền sở hữu nhà nước. -Ruộng đất chủ yếu thuộc về tư nhân
-Hình thức quân chủ chuyên chế tập quyền -Hình thức đa dạng.Dân chủ chủ nô, cộng hòa quý tộc, quân chủ chuyên chế
-HÌnh thức cấu trúc là các nước đơn nhất. -Hình thức cấu trúc: Có xuất hiện nhà nước thành bang
-Kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ ko điển hình, mang nặng tính gia trưởng -Kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ điển hình.
-Cả thần quyền và thực quyền tập trung vào tay vua -Vua nắm 1 phần quyền lực, các hội đồng hay tổ chức khác nắm 1 phần quyền lực.

b/ Pháp luật:
Pháp luật dân sự ở Phương Đông kém phát triển hơn Phương Tây. Ở Phương Đông, lĩnh vực pháp luật hình sự với các qui định về tội phạm và hình phạt được qui định nhiều hơn hơn pháp luật dân sự.
6/ Trình bày cơ sở kinh tế – xã hội của sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước phương Đông cổ đại
Nhà nước phương Đông cổ đại ra đời trên sự thúc đẩy của việc trị thủy-làm thủy lợi và nhu cầu tự vệ. Cơ sở kinh tế vẫn là việc tư hữu về tư liệu sản xuất, cơ sở xã hội là sự phân chia giai cấp, nhưng mâu thuẫn giữa những giai cấp không thật sự sâu sắc. Tuy vậy, yếu tố chính làm xuất hiện nhà nước là sự phân hóa giai cấp, còn yếu tố quản lý và vai trò của người thủ lĩnh trong công cuộc trị thủy và chiến tranh là yếu tố thúc đẩy sự ra đời của nhà nước sớm hơn.
Nhà nước phương Đông cổ đại tồn tại và phát triển trên nền tảng lấy kinh tế nông nghiệp làm chủ đạo. Do hình thành ở lưu vực các con sông lớn nên nông nghiệp phát triển mạnh.
7/ Nhà nước Trung Quốc cổ đại

1. Quá trình hình thành nhà nước
Trung Quốc là một trong những nền văn minh lớn của phương Đông cổ đại, cũng như Ai Cạp, Lưỡng Hà, ấn Độ, ở đây cũng có hai con sông lớn chảy qua đó là sông Hoàng Hà ở phía Bắc và sông Trường Giang ở phía Nam. Lịch sử của Trung Quốc cổ đại kéo dài gần 2000 năm. từ khoảng TK 21 TCN đến năm 221 TCN. Trong thời gian đó, lãnh thổ của Trung Quốc từ lưu vực sông Hoàng Hà không ngừng được mở rộng nhưng nhìn chung, nếu so với ngày nay thì còn rất hạn chế.
Vào khoảng TK 3 TCN, cư dân lưu vực sông Hoàng mới chuyển sang chế độ công xã thị tộc phụ hệ. Theo truyền thuyết, ở đây có nhiều bộ lạc nổi tiếng như Hoàng Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ…Qua quá trình đấu tranh và liên hiệp giữa các bộ lạc, cuối cùng hình thành một liên minh bộ lạc lớn mạnh do Đường Ngiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ lần lượt được bầu làm thủ lĩnh.
Trong thời kỳ này, kinh tế phát triển rõ rệt, nghề nông đã phát triển hơn trước nhiều do các công trình thuỷ lợi được xây dựng lại thêm đất đai màu mỡ. Do vậy, trong xã hội đã xuất hiện sự phân hoá tài sản và sự phân hoá xã hội diễn ra mạnh hơn. Tầng lớp quý tộc thị tộc ngày càng chiếm nhiều ruộng đất của công xã.Dần dần tầng lớp quý tộc thị tộc hình thành một giai cấp-quý tộc chủ nô. Đến thời Hạ, số lượng nô lệ ngày càng nhiều lên với nguồn chính là tù binh chiến tranh. Nông dân công xã vẫn là lực lượng xã hội đông đảo thời bấy giờ.
Khi Hạ Vũ chết, các quý tộc thân cận nhà Hạ trong liên minh bộ lạc đã ủng hộ con của Vũ là Khải lên thay. Việc bầu thủ lĩnh đến đây là chấm dứt, việc cha truyền con nối được coi là đương nhiên. Khi trở thành vua, Khải trở thành ông vua có quyền hành rất lớn. Sự kiện này đánh dấu sự hình thành nhà nước ở Trung Quốc.

2. Sơ lược lịch sử các triều đại

 

 

• Nhà Hạ (TK 21-16 TCN)
Nối chức thủ lĩnh của cha, Khải trở thành ông vua đầu tiên của Trung Quốc, phải đương đầu với nhiều cuọc chống chọi. Trải qua mấy thế kỷ, Kiệt nổi lên là một bạo chúa, áp bức bóc lột dân chúng thậm tệ, mâu thuẫn xã hội đã tới mức gay gắt. Nhân đó, nhà Thương được thành lập, tấn công nhà Hạ, nhà Hạ diệt vong.
• Nhà Thương (TK 16-TK12 TCN)
Sau khi nhà Hạ sụp đổ, nhà Thương chính thức được thành lập, đóng đô ở phía Nam sông Hoàng Hà. Đến TK 14 thì dời đô sang đất Ân ở phía Bắc sông Hoàng. Cũng từ đó, nhà Thương phồn thịnh trong một thời gian dài, về mọi mặt đều phát triển hơn so với thời nhà Hạ, công cụ và đồ dùng bằng đồng thau tương đối phổ biến. Việc trao đổi, mua bán cũng khá phát triển. Quan hệ nô lệ đã phát triển, nhưng công việc chủ yếu vẫn chỉ là làm việc trong gia đình chủ mà thôi.
Trụ là ông vua cuối cùng của nhà Thương nổi tiếng tàn bạo trong lịch sử Trung Quốc, dùng nhiều hình phạt để đàn áp nhân dân, gây chiến tranh với các bộ lạc xung quanh…Nhân đó nhà Chu ở phía Tây (vốn là nước chư hầu của nhà Thương) đã đem quân tấn công, nhà Thương diệt vong.

• Triều đại Tây Chu ( TK 12-771 TCN)
Sau khi đem quân tiêu diệt nhà Thương, nhà Chu đóng đô ở Cảo Kinh (phía Tây Tây An) nên gọi là Tây Chu.
Chính sách nổi bật trong triều đại này là chế độ phong hầu. Tất cả đất đai đều thuộc sở hữu của vua Chu. Vua cắt đất, phân cho con cháu, thân thuộc, khi phong đất kèm theo phong tước. Đến các chư hầu cũng phong cấp cho bề tôi của mình. Chế độ phân phong đã tạo nên một hệ thống chính trị dựa trên đẳng cấp quý tộc huyết thống, sử dụng hệ thống các nước chư hầu để cai trị trong nước và bành trướng ra bên ngoài.
• Triều đại Đông Chu (771-221 TCN)-thời kỳ Xuân Thu-Chiến Quốc
Năm 770 TCN, nhà Chu dời đô về Lạc Dương, phía Đông Trung Quốc nên gọi là Đông Chu. Thời Đông Chu được chia thành hai thời kỳ là Xuân Thu (770-475 TCN) và Chiến Quốc ( 475-221 TCN). Thời kỳ này, nhà Chu ngày càng suy yếu còn các nước chư hầu ngày càng lớn mạnh và diễn ra các cuộc đấu tranh giành quyền bá chủ. Cuối TK 6 TCN, có 5 nước lớn là Tề, Tấn, Sở, Ngô, Việt (“Ngũ bá”). Sang thời Chiến Quốc có 7 nước tranh bá là Tề, Sở, Yên, Hàn, Triều, Ngụy, Tần (“Thất hùng”). Đây là thời kỳ chiến tranh liên miên, quy mô rộng lớn và vô cùng ác liệt.
Một hiện tượng nổi bật là cải cách về mọi mặt, trong đó, nhà Tần năm 359 TCN là cuộc cải cách nổi tiếng nhất và mang lại hiệu quả nhất. Qua các cuộc cải cách ở nước Tần và các nước khác, cơ sở kinh tế và đặc quyền của tầng lớp quý tộc bị phá vỡ, tầng lớp địa chủ mới ngày càng chiếm ưu thế. Đồng thời, qua cuộc cải cách, nước Tần mạnh hẳn lên, đánh bại được 6 nước thống nhất Trung Quốc vào năm 221 TCN. Từ đây, Trung Quốc bước sang thời kỳ phong kiến.
3. Tổ chức bộ máy nhà nước
Bộ máy nhà nươc Trung Quốc được xác lập và hoàn thiện từng bước. Thời Hạ-Thương : bộ máy nhà nước còn đơn giản, mang đậm tàn dư của thị tộc. Thời Tây Chu, bộ máy nhà nước được hoàn thiện về quy mô và cơ cấu tổ chức, tàn dư công xã thị tộc phai nhạt dần. Sang thời Xuân Thu-Chiến Quốc, tổ chức bộ máy nhà nước của các nước đã kế thừa và phát triển tổ chức của nhà Tây Chu..
Tổ chức bộ máy nhà nước :
– Đứng đầu nhà nước là Vua (còn gọi là Đế, Vương, Thiên Tử) : có quyền hành rất lớn về mọi mặt, có quyền lực vô tận, quyết định các công việc trọng đại của đất nước. Ý chí và lời nói của Vua đều gọi là pháp luật, Vua còn tự thần thánh hoá bản thân.
– Bộ máy quan lại ở TƯ :
• Hạ-Thương : mới chỉ có một số chức vụ quản lý các công việc như quản lý chăn nuôi, quản lý xe,..dưới Vua có chức quan Vu có quyền hành lớn nhất, giúp vua quản lý công việc triều đình,
• Tây Chu : bộ máy quan lại triều đình đi vào quy củ. vua thiết lập Tam Công gồm ba chức quan lớn theo thứ tự cao thấp : Thái sư, Thái phó, Thái bảo. Về sau, bỏ Tam công và lập ra 6 chức quan cao cấp (lục khanh) là Thái Tể, Tư Đồ, Tòng Bá, Tư Mã, Tư Khấu, Tư Không. Song song có thái sử liêu gồm: Tả sử, Hữu sử
• Chiến Quốc : xuất hiện chức quan cao cấp nhất trong bộ máy quan lại, tuỳ nước có các tên gọi khác nhau như Lệnh doãn, Tướng quốc, Thừa tướng..Sau này nhà Tần gọi Thừa tướng là Tể tướng.
– Bộ máy quan lại địa phương:
• Cấp hành chính : thời Hạ-Thương, viên quan đứng đầu thường là tù trưởng bộ lạc trứoc đó hay con cháu của của họ. Thời Tây Chu, do chính sách phân phong nên thêm một cấp địa phương là các nước chư hầu. Thời Xuân Thu-Chiến Quốc, do chiến tranh liên miên nên các nước chư hầu trở thành quốc gia độc lập với nhà Chu vì thế bộ máy chính quyền địa phương chủ hầu trở thành bộ máy chính quyền TƯ của một nước.
• Cấp cơ sở : Thời Hạ-Thương, đơn vị hành chính cấp cơ sở là công xã nông thôn do tộc trưởng đứng đầu, do công xã bầu ra. Thời Tây Chu, thôn trưởng vẫn do công xã bầu ra nhưng phải được chính quyền cấp trên phê duyệt. Thời Xuân Thu-Chiến Quốc : có những thay đổi quan trọng tuỳ từng nước.
• Quân đội : rất chú trọng xây dựng. Ngoài quân đội của TƯ, địa phương, các nước chư hầu cũng có lực lượng vũ trang riêng.
Tuy TQ cổ đại bị chia thành nhiều nước nhưng các nhà nước đó đều là nhà nước quân chủ chuyên chế dựa trên cơ sở kinh tế, chính trị-xã hội:
• Kinh tế : hầu hết ruộng đất đều thuộc sở hữu của nhà vua, công xã nông thôn tồn tại bền vững và được quyền sở hữu thực tế ruộng đất của vua.
• Chính trị-xã hội : hệ thống quan lại được hình thành, củng cố theo chế độ tông pháp và chế độ cha truyền con nối. Hầu hết các chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước đều do họ hàng nhà Vua nắm giữ, phẩm tước cao hay thấp phụ thuộc quan hệ gần hay xa. Do đó, đây là chế độ quan chue chuyên chế quý tộc (chủ nô).
8/ Pháp luật Lưỡng Hà cổ đại

Nền kinh tế hàng hoá ở Lưỡng Hà xuất hiện sớm và phát triển bậc nhất ở phương Đông cổ đại nên pháp luật Lưỡng Hà cũng phát triển nổi trội hơn so với các nước khác. Trong đó bộ luật Hammurabi là bộ luật có giá trị lớn nhất. Bộ luật gồm có ba phần : phẩn mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Phần mở đầu đã tuyên bố các vị thần đã trao đất nước cho nhà vua thống trị. Phần kết luận khẳng định lại công đức và uy quyền của nhà vua Hammurabi. Phần nội dung là phần chủ yếu của bộ luật, kế thừa những bộ luật trước đó, những phong tục tập quán của ng­êi Xume vµ c¶ nh÷ng quy ®Þnh cña nhµ vua vµ toµ ¸n nhµ vua. Bộ luật gồm 282 điều khoản cụ thể điều chỉnh hầu hết những quan hệ xã hội lúc bấy giờ, từ các chế định về hợp đồng, hôn nhân và gia đình, thừa kế đến các chế định về hình sự, tố tụng.
• Chế định hợp đồng: 3 nội dung cơ bản : hợp đồng mua bán, hợp đồng vay mượn, hợp đồng cho thuê ruộng đất.
– Hợp đồng mua bán : phải có 3 điều kiện : tài sản mua bán phải đảm bảo đúng giá trị sử dụng, người bán phải là người chủ sở hữu thực sự của tài sản, khi tiến hành hợp đồng phải có người thứ ba làm chứng. Chế tài hợp đồng : tất cả các điều khoản trong hợp đồng đều áp dụng luật hình sự. Điều 7 quy định : nếu vật bán thuộc sở hữu của người khác thì sẽ bị xử tử hình.
– Hợp đồng vay mượn : 89-101 quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và người vay. 115-119 : biện pháp đảm bảo cho hợp đồng vay mượn nhằm đảm bảo quyền lợi cho chủ nợ.
– Hợp đồng cho thuê ruộng đất : có 2 hình thức sở hữu là ruộng đát nhà nước vả ruộng đất tư nhân. Được quy định từ điều 42-48 nêu lên quyền và nghĩa vụ của các chủ tư nhân, từ điều 48-50 là các điều khoản quy định chế tài hợp đồng.
• Chế định hôn nhân và gia đình : pháp luật luôn củng cố và bảo vệ chế độ hôn nhân bất bình đẳng, bảo vệ địa vị của người đàn ông trong gia đình. Người chồng có quyền ly hôn, quyền của người phụ nữ không được pháp luật bảo vệ.Hôn nhân hợp pháp phải có giấy tờ.
Điều 128 ghi rõ : nếu người vợ bị mắc bệnh hiểm nghèo thì người chồng có quyền lấy người phụ nữ khác nhưng phải chăm sóc chị ta suốt đời.
Điều 218 quy định : nếu dân tự do lấy vợ mà không có giấy tờ thì người vợ đó không phải là vợ của y.
• Chế định thừa kế : 167-170. Quyền để lại tài sản thừa kế bị pháp luật hạn chế ở một số trường hợp nhất định. Điều 169 quy định : tất cả các con đều được chia tài sản thừa kế như nhau.
• Chế định hình sự : Hình phạt mang tính chất hà khắc, dã man đặc biệt áp dụng quy tắc trả thù ngang bằng. Hầu hết các hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử bằng hình phạt để đảm bảo đặc quyền của gia cấp thống trị, và những hành vi xâm hại đến tài sản của giai cấp thống trị đều bị xử tử hình. Hình thức chuộc lỗi bằng tiền được áp dụng khá phổ biến nhưng mức phạt tiền lại phụ thuộc vào địa vị của người bị hại. Hình thức xử tử có khoảng 30 hình thức khác nhau nhưng đều rất dã man. Điều 196 quy định : nếu dân tự do làm hỏng con mắt của bất kỳ người nào thì phải làm hỏng con mắt của y
• Chế định tố tụng : nội dung chủ yếu là bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị chủ nô. Đó là quy định những kẻ tàng trữ nô lệ hay giúp đỡ nô lệ chạy trốn đều bị xử tử. Hay những quy định khắt khe của những kẻ cho vay nặng lãi đối với con nợ. Bộ luật còn cho pháp chủ nợ có quyền tịch thu tài sản của con nợ thậm chí bắt các thành viên trong gia đình con nợ làm nô lệ.
Bộ luật Hammurabi là bộ luật có giá trị vào bậc nhất ở phương Đông và thế giới cổ đại, là tấm gương phản chiếu rõ nét bản chất giai cấp của nhà nước.
9/ Nội dung và giá trị cơ bản của bộ luật Hammurabi:

* Nội dung bộ luật: Bộ luật Hammurabi là bộ luật tương đối hoàn chỉnh thời lỳ cổ đại, gồm 282 điều (hiện chỉ đọc được 247 điều) bao gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luật. Đây là một bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới dạng luật hình, bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực và đều có chế tài, chủ yếu là điều chỉnh quan hệ xã hội liên quan tới lợi ích của giai cấp thống trị.
– Phần mở đầu Vua Hammurabi tuyên bố rằng các vị thần đã trao đất nước cho nhà vua thống trị để làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ.
– Phần nội dung là phần chủ yếu của bộ luật. Nội dung của bội luật bắt nguồn từ sự kế thừa từ những bộ luật trước đó, cụ thể là những pháp điển của người Xume,ngoài ra chứa đựng những sắc lệnh của vua Hammurabi và nhiều quyết định của tòa án cao cấp bấy h.Trong đó, điều đầu tiên là bộ luật quy định thủ tục kiện cáo, cách xét xử tức tục tố tụng. Tiếp đó là những quy định về hình phạt của tội trộm cắp, bắt cóc nô lệ, về quyền và nghĩa vụ của binh lính, quyền lợi của người lính canh ruộng đất. Tội sử dụng bừa bãi nguồn nước, tội để súc vật tàn phá hoa mầu. Các hình thức cho vay lãi, nô lệ vì nợ cũng được quy định rất cụ thể. Sau đó bộ luật dành nhiều khoản về việc gả bán con gái, về gia đình, về các hình thức trị tội khi làm tổn hại tới thân thể người khác, hình phạt đối với tội thủ tiêu dấu trên mặt nô lệ, trách nhiệm và tiền công của những người làm thuê trong xây dựng, nông nghiệp, chăn nuôi, thủ công nghiệp. Và cuối cùng, những điều khoản quy đinh về mua bán nô lệ.
– Phần kết luận của bộ luật: khẳng định lại công đức và uy quyền của Hammurabi. Nhà vua trừng trị thẳng tay những kẻ nào hủy hoại bộ luật.

• Giá trị cơ bản:
– Vượt ra khỏi hạn chế lịch sử, giá trị xã hội của Bộ luật được thể hiện rõ ngay từ mục đích của Bộ luật, thể hiện ở phần mở đầu của Bộ luật: “Vì hạnh phúc của loài người thần Anu và thần Enlin đã ra lệnh cho trẫm-Hammurabi, một vị quốc vương quang vinh và ngoan đạo, vì chính nghĩa, diệt trừ những kẻ gian ác không tuân theo pháp luật, làm cho kẻ mạnh không hà hiếp người yếu, làm cho trẫm giống như thần Samat sai xuống dân đen, tỏa sáng khắp muôn dân.
– Về kỹ thuật lập pháp, tuy không phân chia thành các ngành luật nhưng bộ luật cũng đc chia thành nhóm các điều khoản có nội dung khác nhau. Phạm vi điều chỉnh là quan hệ xã hội như hôn nhân gia đình, ruộng đất, thừa kế tài sản, hợp đồng dân sự, hình sự, tố tụng..
– Về mặt hình thức pháp lý: đây là bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới dạng luật hình, bao gồm các quy phạm Pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực và đều có chế tài.
– Về mức độ điều chỉnh: Bộ luật về cơ bản áp dụng mức độ điều chỉnh cụ thể, chi tiết.
 Vượt khỏi hạn chế về tính giai cấp, có thể thấy chứa đựng trong nhiều quy phạm của Bộ luật dù ở dạng thức sơ khai nhất, cổ xưa nhất vẫn chứa đậm nét những giá trị tiến bộ, nhân văn, đặc biệt là về kỹ thuật lập pháp trong các qui định từ hôn nhân gia đình tới kế thừa, qui định hợp đồng. Bộ Luật vẫn chứa đựng nhiều giá trị đương đại đáng kế thừa và phát triển.

10/ Trình bày nét tương đồng và khác biệt giữa bộ luật Hammurapi và Manu.

Trả lời:
So sánh Bộ Luật Hammurabi và Bộ Luật Manu

– Bộ Luật Hammurapi là bộ luật thành văn sớm nhất được xây dựng trên cơ sở lấy từ những tiền lệ pháp của người Xume, những quy định của tòa án và cá phán quyết của tòa án ca lúc bây giờ, và mệnh lệnh chiếu chỉ của nhà vua bởi vậy mà Bộ Luật chú trọng tập trung điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội lúc bấy giờ. Tuy rằng Bộ Luật Manu cùng được xây dựng từ những luật lệ, những tập quán của giai cấp thống trị nhưng nó lại được các giáo sĩ Bà La Môn tập hợp dưới dạng trường ca, được trình bày dưới dạng câu trường ca, tuy có điều chỉnh quan hệ pháp luật nhưng nó còn bao gồm rất nhiều vấn đề như chính trị, tôn giáo, quan niệm về thế giới và vũ trụ, bởi vậy Bộ Luật bao gồm 2685 điều trong khi đó Hammurapi chỉ có 282 điều. Tuy nhiên, bộ Luật Hammurapi lại điều chỉnh các quan hệ xã hội tiến bộ hơn rất nhiều so với Manu.
– Nội dung:
o Chế độ hợp đồng: hai bộ luật điều có phần điều kiện có hiệu lực hợp đồng, Bộ Luật Manu chủ yếu đề cập tới vấn đề hợp đồng vay mượn, BL Hammurapi còn nói đến vấn đề hợp đồng lĩnh canh ruộng đất, hợp đồng gửi giữ, cả hai bộ Luật đều dung chính bản thân con người làm vật bảo đảm, tuy nhiên BL Hammurapi có những quy định cũng như chế tài rõ ràng hơn so với Manu, BL Manu có tính phân biệt rõ ràng đối với đẳng cấp cao đó là Bà La Môn.
o Chế định hôn nhân: BL Manu có sự bất bình đẳng rõ rệt giữa vợ và chồng, hôn nhân mang tính chất mua bán, người vợ được người chồng mua về, trong khi đó bên BL Hammurapi có thủ tục kết hôn, tuy cũng có sự bất bình đẳng nhưng BL vẫn có điều khoản bảo vệ người phụ nữ.
o Chế độ thừa kế: về cơ bản 2 BL đều có 2 hình thức thừa kế là: theo luật pháp và theo di chúc, đều thừa kế theo tài sản người cha. Bên BL Hammurapi có them phần Điều kiện tước quyền thừa kế.
o Chế độ hình sự: BL Manu có sự phân biệt đẳng cấp rõ ràng: khoan dung cho người đẳng cấp trên và trừng trị thẳng tay đối với kẻ đẳng cấp dưới có hành vi xâm phạm tới đẳng cấp trên, bên BL Hammurapi có quan niệm hình sự là trừng trị tội lỗi, mang tính chất trả thù ngang nhau tuy nhiên chỉ là tương đối. Các hình thức xử phạt của hai bộ Luật đều rất dã man.
o Chế độ tố tụng: Bộ Luật Manu thì coi trọng chứng cứ nhưng chứng cứ lại phụ thuộc vào giới tính và đẳng cấp, chứng cứ của đẳng caapscao có tính quyết định. BL Hammurapi cũng coi trọng chứng cứ nhưng ko phân biệt đăng cấp và điều quan trọng là được xét xử công khai rất tiến bộ.
Bộ luật Manu mang tính phân biệt đẳng cấp rất rõ rệt, mọi điều khoản đều ủng hộ đẳng cấp trên. Bộ Luật Hammurapi tuy cũng có sự phân biệt nhưng cùng với đó cũng có tính dân chủ nhất định, cũng có sự bảo vệ với người dân.`

11/ Trình bày cơ sở kinh tế – xã hội cho sự ra đời của Nhà nước Phương Tây cổ đại.
Trả lời:
– Kinh tế phát triển mạnh, do các quốc gia cổ đại phương tây chủ yếu là ven biển,đất đai lại không phù hợp với nông nghiệp do vậy xu hướng buôn bán thương nghiệp rất phát triển, cùng với đó là thủ công nghiệp cũng phát triển rực rỡ làm cho chế độ tư hữu diễn ra nhanh chóng, tư hữu về ruộng đất làm cho phân hóa xã hội diễn ra mạnh mẽ:
+ Những gia đình có thế lực trong xã hội thi tộc trước kia như tù trưởng, thủ lĩnh quân sự chiếm nhiều ruộng đất và tư hữu tư liệu sản xuất, ngày càng trở lên giàu có trở thành giai cấp quý tộc thị tộc (hay còn gọi là quý tộc chủ nô ruộng đất)
+ Thương nhân, thợ thủ công, bình dân trong qua trình tìm vùng đất thực dân… ngày càng trở lên giàu có. Khi chế độ tư hữu ruộng đất xuất hiện, họ tậu được nhiều ruộng đất, nô lệ.. trở thành tầng lớp quý tộc chủ nô công thương nghiệp hay còn gọi là quý tộc mới.
+ Cùng với sự giàu có của quý tộc chủ nô là sự bần cùng hóa của nông dân, họ giải quyết sự bần cùng hóa của mình bằng 3 cách sau: Lĩnh canh ruộng đất của chủ nô để cày cấy hoặc đi làm thuê và trở thành tầng lớp bình dân; Một số quá nghèo bán mình làm nô lệ; Một số rời bỏ quê hương tìm vùng đất mới, dần dần họ biến nơi đó thành thuộc địa, những người đó càng trở lên giàu có và gia nhập vào tầng lớp quý tộc chủ nô công thương nghiệp.

– Do sự phân hóa giai cấp diễn ra mạnh mẽ nên mâu thuẫn giai cấp trở lên gay gắt. Trong đó, giai cấp chủ nô bóc lột sức lao động của nô lệ là chủ yếu. Quan hệ nô lệ mang tính chất điển hình. Giai cấp nô lệ phản kháng lại sự áp bức bóc lột bằng nhiều cuộc nổi dậy, để dập tắt những cuộc đấu tranh đó, giai cấp chủ nô thiết lập ra nhà nước để quản lý và đàn áp giai cấp bị trị.

12/ Nhà nước Hy Lạp – La Mã thời cổ đại

1. Địa lý – kinh tế-xã hội
1.1 Địa lý – kinh tế : nền kinh tế sớm có nhiều thành phần
– Nằm trên bán đảo Ban-can ở phía Nam châu Âu, thuận lợi cho việc thương mại, buôn bán, họ có thể vượt qua Địa Trung Hải tới Cận Đông là Bắc Phi, phía Bắc là Bắc Âu, phía Tây là Tây Âu và Đại Tây Dương, có nhiều thuận lợi cho giao lưu hàng hoá, thương nghiệp, nhiều hải cảng tốt
– Sản phẩm : lúa mì, lúa đại mạch, nho(nấu rượu), ôliu (lấy dầu); nghề thủ công, chế tạo vũ khí, công cụ sản xuất cũng rất phát triển
– Công thương nghiệp : chưa có máy móc nhưng nền kinh tế vận hành theo cơ chế hàng hoá thị trường, có chủ nô có trong tay hàng ngàn nô lệ, nền kinh tế thị trường La Mã rất phát triển (tương đối giống CNTB thời kỳ cận đại)  khác hoàn toàn châu á
1.2 Xã hội
– TK 8 TCN, Hy Lạp bước vào thời kỳ XH có giai cấp tan rã một cách triệt để, tư hữu phát riển mạnh, nó quyết định cách thức phát triển của xã hội
– XH có 3 giai cấp : chủ nô, nông dân-thị dân, nô lệ

2. Lịch sử Hy Lạp – La Mã
2.1 Lịch sử cổ đại Hy Lạp
Vào TK 8 TCN, nhiều thành bang, có 2 hình thúc nhà nước tồn tại là nhà nước cộng hoà quý tộc chủ nô Spac và cộng hoà dân chủ chủ nô Aten.
Kinh tế, văn hoá, xã hội phát triển rất rực rỡ nhất là vào khoảng TK 5 TCN.
Đến TK 2 TCN : Hy Lạp bị sụp đổ dưới sự xâm lược của đế quốc La Mã.
2.2 Lịch sử cổ đại La Mã
TK 6 TCN, trên bán đảo Italia, hình thành nhiều QG của nhiều tộc người khác nhau.
Người Latin (bao gồm La Mã) đã dựng nước ở miền trung nước Italia, TK 6 TCN, người Latin xây dựng thành Rome ở bên bờ sông Typơrơ.
Sự phát triển của đế quốc La Mã gắn liền với những cuộc chiến tranh xâm lược, mở rộng lãnh thổ, xây dựng một đế quốc La Mã rộng lớn nhất thời kỳ cổ đại. Đế quốc La Mã chinh phục toàn bộ bán đảo Italia, Nam Âu, xâm lược toàn bộ Bắc Âu, Tây Âu (tức là toàn bộ nước Anh bây giờ), qua Địa Trung Hải xâm lược toàn bộ Lưỡng Hà, toàn bộ Bắc Phi, TK 2 TCN là thời kỳ hưng thịnh của đế quốc La Mã, biên giới phía Nam kéo dài xuống tận sa mạc Sahara.
TK 5 SCN, đế quốc La Mã sụp đổ, chế độ nô lệ La Mã kết thúc cũng tức là kết thúc thời kỳ cổ đại.
3. Nhà nước cộng hoà quý tộc chủ nô Spác
3.1 Sự ra đời của nhà nước
Quá trình ra đời NN Spac đồng hành cùng quá trình xâm lược và thiết lập ách thông trị của người Đô-riêng ở Spac.
Vào TK 12-11 TCN, người Đô-riêng tràn vào xâm lược vùng đất của ngươid Akêăng. Cả hai tộc người này đều đang ở trạng thái công xã nguyên thuỷ đang tan rã, Vào TK 9 TCN, người Đô-riêng xây dựng thành Spac. Trong quá trình xâm chiếm, ở thành Spac dần dần hình thành mầm mống của XH có giai cấp và NN. Đến TK 8-7 TCN, người Đô-riêng tiếp tục xâm lược vùng đất bên cạnh của người Ilốt biến cư dân ở đây thành nô lệ tập thể. Sau cuộc xâm chiếm đó, quan hệ nô lệ được xuất hiện trọn vẹn. Sự phân chia giai cấp được xác lập vững chắc với việc phân chia cư dân thành ba giai cấp khác nhau là người Spac (thống trị), người Ilốt (nô lệ) và người Piriecơ (thợ thủ công).
Ngăn chặn không cho tầng lớp công thương nghiệp (người Pirieccơ) giàu lên, phát triển thế lực, NN Spac đã thi hành chính sách hạn chế công thương nghiệp. Thành bang Spac là quốc gia nông nghiệp.
3.2 Tổ chức bộ máy nhà nước cộng hoà quý tộc chủ nô Spac
– Đứng đầu là Hai Vua (tàn dư của chế độ công xã thị tộc-đứng đầu là hai thủ lĩnh), là thành viên trong hội đồng trưởng lão, vừa là thủ lĩnh QS, vừa là tăng lữ tối cao, vừa là người xử án. Tuy nhiêm, khác với những ông vua chuyên chính của phương Đông, quyền lực Hai vua không lớn lắm.
– Hội đồng trưởng lão gồm 28 vị trưởng lão và hai vua. Trưởng lão là người có đọ tuổi từ 60 tuổi trở lên được chọn từ đội ngũ những quý tộc danh vọng, có vai trò quan trọng trong bộ máy NN, có quyền quyết định những vấn đề liên quan đến vận mệnh đất nước.
– Hội nghị công dân, về hình thúc là CQ quyền lực cao nhất, mọi người Spac trên 30 tuổi đều có thể tham gia hội nghị công dân. Mọi người thông qua hay phản đối những vấn đề trong hội nghị bằng những tiếng thét chứ không được thảo luạn gì. Khi biểu quyết những vấn đề quan trọng những người dự hội nghị chia thành hai hàng, qua đó biết được tỷ lệ số người đồng ý hay phản đối. Tuy nhiên, hội nghị công dân thường chỉ mang tính hình thức vì dễ xảy ra tiêu cực lại không được họp thường xuyên mà phải tuỳ theo quyết định của Hai Vua.
– Về sau, do mâu thuẫn giữa hội đồng trưởng lão và hội nghị công dân ngày một gay gắt nên một CQ có quyền hạn rất lớn được thành lập đó là Hội đồng 5 quan giám sát-là đại biểu của tập đoàn quý tộc bảo thủ nhất, có quyền hành rất lớn như giám sát vua, giám sát hội đòng trưởng lão…Thực chất, nó là CQ lãnh đạo tối cao xủa NN nhằm tập trung quyền lực vào tay tầng lớp quý tộc chủ nô.
– NN Spac đặc biệt chú trọng quân đôị. Lục quân Spac là đội quân thiện chiến. Mọi ngưòi trong toàn đất nước đều chú ý phát triển quân đội, các bé trai được huấn luyện từ năm 7 tuổi để trở thành chiến sĩ dũng cảm, nhanh nhẹn..đến năm 20 tuổi được mặc quân phục và đến năm 60 tuổi mới được cởi bỏ bộ quần áo lính.
Trong quá trình phát triển của lịch sử Hy Lạp cổ đại, NN Spac là dinh luỹ của thế lực chủ nô phản động nhất, chống lại những thành bang theo chính thể CH dân chủ chủ nô. Quyền lực NN tập trung tối đa vào tay tập đoành quý tộc chủ nô và quyền dân chủ của những người tự do bị hạn chế tới mức tối thiểu. Bởi vậy, NN Spac là NN CH quý tộc chủ nô điển hình nhất.
4. Nhà nước cộng hoà dân chủ chủ nô Aten
4.1 Quá trình Aten chuyển sang chính thể cộng hoà
Cũng như nhiều vùng khác ở Hy Lạp, đến khoảng TK 8 – TK 6 TCN, Aten bắt đầu bước vào xã hội có giai cấp và có nhà nước.
ở Aten, công thương nghiệp phát triển rất sớm với tốc độ rất nhanh, bên cạnh tầng lớp quý tộc chủ nô, tầng lớp chủ nô mới (chủ nô công thương) xuất hiện rất sớm, tăng nhanh về số lượng và mạnh về kinh tế, họ giữ vai trò quan trọng trong quá trinhg hình thành và phát triển chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô Aten sau này.
Quá trình chuyển biến sang chính thể cộng hoà được chuyển biến và đấu tranh bằng nhiều hình thức như bạo lực, cải cách giữa một bên là chủ nô nông nghiệp (chủ nô cũ) và một bên là chủ nô công thương (chủ nô mới) để thiết lập nền cộng hoà, chủ yếu chuyển biến bằng cải cách với những cuộc cải cách lớn như cải cách Xôlông, cải cách Clixten, cải cách Pêriclet. Các cuộc cải cách đều theo hướng có lợi cho chủ nô công thương, hạn chế quyền lực chính trị của chủ nô nông nghiệp và tăng cường thế lực kinh tế, chính trị của chủ nô công thương và bình dân.
Qua các cuộc cải cách đã hình thành các đặc trưng cơ bản của nhà nước :
– chia dân cư theo khu vực hành chính để cai trị.
– cơ quan quyền lực công cộng : Đại hội công dân, hội đồng 500
Chủ nô công thương và bình dân thắng triệt để hình thành chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô Aten.
4.2. Cấu trúc bộ máy nhà nước

Biểu hiện

5. Nhà nước La Mã
5.1. Quá trình hình thành và phát triển nhà nước La Mã
Bán đảo Italia vươn ra Địa Trung Hải có nhiều đồng bằng rộng và đất đai màu mỡ, lag nơi gặp gỡ của những luông văn minh Đông và Tây Địa Trung Hải. Trước khi La Mã chiếm toàn bộ Italia, ở đây coa 3 tộc người sinh sông, người Hy Lạp ở phía Nam, người Êtơrutxcơ ở phía Bắc và người Latin ở phía trung. Người Latinn cho xây dựng thành La Mã nên họ được gọi là người La Mã.
Quá trình hình thành NN La Mã là kết quả của cảc hai yếu tố : sự phân hoá XH, phân hoá giai cấp ở tộc người Latin và tộc người Êtơrutxcơ và cuộc đấu tranh của người Latin chống lại sự xâm lược của người Êtơrutxcơ. Xã hội người La Mã thời kỳ này vẫn là chế độ quân sự bộ lạc, sau đó, XH dần bị phân hoá thành quý tộc chủ nô, nô lệ, bình dân.
XH từng bước chuyển sang XH có giai cấp và nhà nước xuất hiện.
5.2 Tổ chức bộ máy NN La Mã (chính thể CH quý tộc sau đó chuyển sang chính thể quân chủ chuyên chế chủ nô)
Cơ cấu nhà nước La Mã được hình thành trong mấy thế kỷ, đến TK 3 TCN mới được hoàn chỉnh.
Chính thể CH quý tộc ở La Mã có những đặc điểm là ở TƯ các cơ quan chuyên chính gồm : Nghị viện (viện nguyên lão), Đại hội nhân dân và các cơ quan chấp chính.Nó thể hiện sâu sắc tính chất quý tộc của nhà nước La Mã. Đó là chính thể CH quý tộc.
Nghị viện (viện nguyên lão) gồm 300 người và chỉ những người giàu có mới được bầu vào nghị viện. Nghị viện là chính phủ, là cơ quan hành chính cấp cao nhất. Mặc dù không có quyền lập pháp nhưng nghị viện có quyền soạn thảo tất cả các dự thảo luật và nếu như nghị viện không đông ý thì đại hội nhân dân không thể thông qua được luật hoặc bầu ra những quan chấp chính.
Đại hội công dân gồm có đại hội xăng-tu-ri và đại hội nhân dân.
Đại hội xăng-tu-ri là đại hội theo đơn vị quân đội của các đẳng cấp, có quyền hàn lớn, giải quyết các vấn đề về chiến tranh, hoà bình, bầu ra các quan chức cao cấp của NN.
Đại hội nhân dân là cơ quan lập pháp, mọi công dân đều có quyền tham gia đại hội để giải quyết các vấn đề như những vấn đề liên quan đến lãnh thổ, các vấn đề liên quan tới hôn nhân, gia đình, thừa kế và việc thực hiện các nghi lễ tôn giáo.
Đại hội nhân dân là đại hội chỉ mang tính hình thức, các chức vụ đều không có lương và phải bỏ nhiều tiền để chiêu đãi, vì vậy, người nghèo khồn có điều kiện vào những chức vụ trong bộ máy nhà nước.
Cơ quan chấp hành và điều hành những công việc hằng ngày là các cơ quan chấp chính do đại hội nhân dân bầu ra.
Cùng với những thay đổi trong xã hội chiếm hữu nô lệ, các nhà nước chiếm hữu nô lệ có chính thể cộng hoà từng bước chuyển dần sang chính thể quân chủ. Quyền lực nhà nước chủ yếu tập trung vào tay các vua (hoàng đế), được truyền từ đời này sang đời khác theo nguyên tắc cha truyền con nối để bảo vệ lợi ích cho một số những chủ nô giàu có trong xã hội.
Nền cộng hoà quý tộc chủ nô bị xoá bỏ vĩnh viễn khi Oc-ta-vit lên nắm quyền, là viên tướng nắm quyền chỉ huy tối cao quân đội với danh hiệu hoàng đế, có toàn quyền quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước, hầu hết những cơ quan nhà nước của chính thể cộng hoà bị giải tán. Chính thể quân chủ chuyên chế vừa là sản phẩm của thời kỳ suy vong và sụp đổ của chế độ chiếm hữu nô lệ, vừa là công cụ thống trị của giai cấp chủ nô của đế quốc La Mã. Đến TK 5, đế quốc La Mã bị phong kiến hoá.
La Mã xây dựng bộ máy nhà nước theo chính thể cộng hoà quý tộc đã bắt đầu có sựu phân chia và giám sát quyền lực. Thiết chế chính trị của La Mã đã đặt nền móng cho chiều hướng phát triển của nền văn minh cận hiện đại của châu Âu.
Nguyên nhân của sự tan rã, suy vong của đế quốc La Mã :
– Quá rộng lớn
– QHSX PK đã được hình thành
– Người Giec-manh đã tràn vào xâm lược La Mã.
Đề cương môn lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới
13/ Nhận xét tính dân chủ của nhà nước Aten:
Trả lời:

– Bộ máy nhà nước của Aten được tổ chức theo nguyên tắc tập trung quyền lực vào hội nghị công dân, nghĩa là dành cho toàn thể công dân Aten quyền dân chủ. Do đó, có thể kết luận rằng nhà nước Aten được tổ chức theo hình thức chính thể Cộng hoà Dân chủ Chủ nô.
– Tuy nhiên, nền Cộng hoà Dân chủ này còn có những hạn chế của nó, như:
• + Chỉ những công dân nam Aten (có cha và mẹ đều là người Aten) từ 18 tuổi trở lên mới quyền tham gia vào Hội nghị công dân, còn phụ nữ, kiều dân và nô lệ thì không có quyền này. Trong khi tỷ lệ dân kiều dân và nô lệ chiếm một con số khá lớn.
• + Các cuộc họp của Hội nghị công dân đa số đều được tổ chức tại thành Aten, do đó, các công dân Aten sinh sống ở những vùng nông thôn xa xôi không có điều kiện để thường xuyên tham gia Hội nghị. Chỉ có một bộ phận nhỏ công dân Aten sinh sống tại thành Aten và các vùng nông thôn lân cận mới thỉnh thoảng tham gia vào cuộc họp của Hội nghị công dân. Chỉ có những cuộc họp bỏ phiếu bằng vỏ sò thì mới tập trung đông đảo công dân tham gia.
14/ Trình bày những nét cơ bản về quá trình dân chủ hóa nhà nước Aten( qua 3 cuộc cải cách của XoLong, Cixten, Periclet)

Trả Lời:

Cải cách của Xôlông: Năm 594 TCN, Xôlông, một đại biểu của tầng lớp quý tộc công thương nghiệp được bầu vào chức quan chấp chính. Trong thời gian đương nhiệm, ông thựa hiện cải cách mang lại dân chủ cho rộng rãi dân chúng, xoá bỏ đặc quyền của quý tộc thị tộc:
• Bãi bỏ nợ nần cho dân chúng, nhổ hết các thể cầm cố ruộng đất, trả ruộng đất cho nông dân tự do, cấm việc biến dân tự do thành nô lệ vì nợ. Điều này làm cho lực lượng của dân tự do đông hơn và củng cố được địa vị của mình, do đó, sau này dân tự do là lực lượng ủng hộ cho quý tộc mới thực hiện các cuộc cải cách sau này.
• Thành lập Hội đồng 400 người. Mỗi bộ lạc được cử 100 người thuộc đẳng cấp 1,2,3 tham gia vào hội đồng này. Hội đồng này có quyền tư vấn cho Quan chấp chính, soạn thảo những nghị quyết trước khi đưa ra bàn bạc, quyết định tại Hội nghị công dân; giải quyết các công việc thường ngày khi Hội nghị công dân không họp.
• Căn cứ theo tài sản, Xôlông chia dân cư thành 4 đẳng cấp. Người dân được hưởng quyền chính trị tương ứng với đẳng cấp của mình (xoá bỏ đặc quyền của quý tộc thị tộc):
• Đẳng cấp 1: gồm những người có thu nhập hàng năm từ 500 mêđim thóc trở lên (1 mêđim = 52,5 lít). Đẳng cấp này được hưởng đầy đủ quyền chính trị, được ứng cử vào các chức quan cao cấp (quan chấp chính, thành viên hội đồng trưởng lão…)và có nghĩa vụ cung cấp tiền của cho nhà nước để xây dựng các hạm đội, các công trình công cộng,…
• Đẳng cấp 2: thu nhập hàng name từ 300 đến 500 mêđim thóc
• Đẳng cấp 3: thu nhập hàng name từ 200 đến 300 mêđim thóc.
• Đẳng cấp 2 và 3 được quyền ứng cử vào hội đồng 400 người.
• Đẳng cấp 4: có ít hoặc không có ruộng đất, đẳng cấp này chỉ được quyền tham gia vào hội nghị công dân, không được quyền tham gia vào các cơ quan khác.
• Thành lập toà án công dân. Tại toà án này, mọi công dân đếu được quyền bào chữa và kháng án.
+ Cải cách của clixten:
• Bỏ 4 bộ lạc cũ và chia dân cư theo 3 khu vực. Mỗi khu vực chia thành 10 phân khu, và cứ 3 phân khu hợp lại thành một liên khu. Như vậy, ở aten lúc bấy giờ có tất cả là 10 liên khu.
• Vì 4 bộ lạc trước kia không cón nữa , do đó hội đồng 400 người cũng bị huỷ bỏ theo. Thay vào đó, clixten thành lập hội đồng 500 người. Mỗi một liên khu sẽ cử 50 người tham gia, không kể thuộc đẳng cấp nào.
• Thành lập Hội đồng 10 tướng lĩnh
• Để bảo vệ nền Cộng hoà Dân chủ và chống lại âm mưu thiết lập nền độc tài nên Clixten cón đặt ra luật bỏ phiếu bằng vỏ sò. Theo đó, nếu ai bị ghi tên trên hơn 6000 vỏ sò, tức bị hơn 6000 ý kiến cho là có âm mưu thiết lập nền độc tài thì sẽ bị trục xuất ra khỏi Hy Lạp trong vòng 10 năm.
• Bên cạnh đó, ông còn khuyến khích mọi người tham gia bảo vệ chế độ dân chủ bằng cách khen thưởng hoặc sẽ giải phóng thân phận cho nô lệ thành kiều dân hoặc từ kiều dân được công nhận là công dân Aten.
+ Cải cách của Pêriclet:
• Trả lương cho những người tham gia vào cơ quan nhà nước. Điều này tạo điều kiện cho dân nghèo có thể tham gia quản lý nhà nước.
• Thay chế độ bầu bằng chế độ bóc thăm để chọn ra nhân viên nhà nước.
[*] Tổ chức bộ máy nhà nước:
– Hội nghị công dân:
• + Thành viên: toàn thể công dân nam người aten (có cha và mẹ đều là người aten) từ 18 tuổi trở lên.
• + Hoạt động và quyền hạn:
• Cứ 10 ngày họp 1 lần. Trong buổi họp, các công dân có quyền tự do bàn bạc, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng, bầu những chức quan cao cấp, giám sát các cơ quan khác thông qua các đạo luật, ban hoặc tước quyền công dân…
– Hội đồng 500 người:
• + Chia thành 10 ủy ban. Một ủy ban gồm 50 người cua một liên khu, hoạt động trong thời gian 1/10 năm tức 36 đến 39 ngày. Tên của các thành viên của ủy ban này được lập thành một danh sách và theo danh sách đó, mọi người theo thứ tự của bản danh sách đảm nhiệm chức vụ chủ tịch ủy ban một ngày.
• + Quyền hạn, nhiệm vụ:
• Thi hành những quyết nghị của hội nghị công dân
• Giải quyết những vấn đề quan trọng giữa hai kỳ họp của hội nghị công dân.
• Giám sát công việc của các viên chức nhà nước
• Quản lý tài chính
• Thảo luận những vấn đề quan trọng trước khi trình ra quyết định tại hội nghị công dân.
– Hội đồng 10 tướng lĩnh:
• + Thành viên của hội đồng này không được cấp lương và được bầu ra tại hội nghị công dân bằng cách biểu quyết giơ tay.
• + Quyền hạn, nhiệm vụ: thống lĩnh quân đội, chịu sự giám sát của hội nghị công dân.
– Toà bồi thẩm:
• + Là cơ quan xét xử và giám sát tư pháp cao nhất.
• + Mọi công dân nam từ 30 tuổi trở lên được quyền ứng cử để trở thành thẩm phán. Hội nghị công dân sẽ bầu ra các thẩm phán bằng cách bỏ phiếu.
15/ Nêu các bộ phận cấu thành cơ bản của nhà nước Cộng hòa dân chủ chủ nô Aten:
Trả lời:
– Hội nghị công dân:
• + Thành viên: toàn thể công dân nam người aten (có cha và mẹ đều là người aten) từ 18 tuổi trở lên.
• + Hoạt động và quyền hạn:
• Cứ 10 ngày họp 1 lần. Trong buổi họp, các công dân có quyền tự do bàn bạc, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng, bầu những chức quan cao cấp, giám sát các cơ quan khác thông qua các đạo luật, ban hoặc tước quyền công dân…
– Hội đồng 500 người:
• + Chia thành 10 ủy ban. Một ủy ban gồm 50 người cua một liên khu, hoạt động trong thời gian 1/10 năm tức 36 đến 39 ngày. Tên của các thành viên của ủy ban này được lập thành một danh sách và theo danh sách đó, mọi người theo thứ tự của bản danh sách đảm nhiệm chức vụ chủ tịch ủy ban một ngày.
• + Quyền hạn, nhiệm vụ:
• Thi hành những quyết nghị của hội nghị công dân
• Giải quyết những vấn đề quan trọng giữa hai kỳ họp của hội nghị công dân.
• Giám sát công việc của các viên chức nhà nước
• Quản lý tài chính
• Thảo luận những vấn đề quan trọng trước khi trình ra quyết định tại hội nghị công dân.
– Hội đồng 10 tướng lĩnh:
• + Thành viên của hội đồng này không được cấp lương và được bầu ra tại hội nghị công dân bằng cách biểu quyết giơ tay.
• + Quyền hạn, nhiệm vụ: thống lĩnh quân đội, chịu sự giám sát của hội nghị công dân.
– Toà bồi thẩm:
• + Là cơ quan xét xử và giám sát tư pháp cao nhất.
• + Mọi công dân nam từ 30 tuổi trở lên được quyền ứng cử để trở thành thẩm phán. Hội nghị công dân sẽ bầu ra các thẩm phán bằng cách bỏ phiếu.
16/ So sánh và chỉ ra nét khác nhau cơ bản của Nhà nước Xpac và Nhà nước Aten (Hy Lạp cổ đại)
Trả lời:
– Hình thức nhà nước: Aten là Nhà nước Cộng hòa Dân chủ chủ nô. Xpac là Nhà nước Cộng hòa quý tộc chủ nô.
– Tổ chức xã hội:
o Aten: mới đầu cũng theo hình thức cộng hòa quý tộc chủ nô nhưng do kinh tế phát triển, công thương nghiệp dần chiếm vai trò chủ đạo dần liên kết với nông dân chống lại giai cấp quý tộc, thong qua ba lần cải cách của:XôLông, clixten, Periclet, đã dần chuyển từ hình thức cộng hòa quý tộc chủ nô sang chế độ cộng hòa dân chủ chủ nô.
o Xpac: sự hình thành nhà nước Xpac trên cơ sở của cuộc chiến tranh xâm lược của người Đô Riêng đối với người Akeang. Cuộc xâm chiếm làm xã hội hình thành các giai cấp mới:
 Người Xpac: là giai cấp thống trị, công việc là cai trị đất nước và đánh giặc. Nhà nước sở hữu toàn bộ đất đai và nô lệ. Tầng lớp quý tộc.
 Người Periet: Là người Akeang bị chinh phục, là người tự do có ruộng tài sản riêng nhưng không có quyền về chính trị, họ phải cống nạp cho người Xpac và không được lấy người Xpac.
 Người Ilốt: là nô lệ chung cho cả xã hội Xpac.
 Nhà nước Aten đã có sự dân chủ hơn so với nhà nước Xpac: Aten người dân tự do có quyền tham gia chính trị đấu tranh với giai cấp quý tộc đòi quyền lợi; trong khi đó nhà nước Xpac các giai cấp khác phải nghe theo sự thống trị của giai cấp quý tộc Xpac, họ ko được hưởng quyền lợi gì.
– Tổ chức bộ máy nhà nước:
o Nhà nước Xpac có 2 vua được tôn kính nhưng không có thực lực; Còn nhà nước Aten không có vua.
o Nhà nước Xpac có hội đồng nhân dân là hội đồng thảo pháp luật gồm các thành viên là quý tộc; Đại hội nhân dân thành viên là các công dân nam Xpac trên 30 tuổi đây là cơ quan có quyền lực về mặt hình thức, quyền lực thực sự tập trung trong hội đồng trưởng lão. Về sau do sự mâu thuẫn gay gắt giữa các giai cấp, để bảo vệ quyền lợi của mình giai cấp quý tộc đã lập ra Hội đồng 5 quan giám sát có chức năng và quyền hạn rất lớn, là cơ quan lãnh đạo tối cao, nhằm tập trung quyền lực vào tay giai cấp quý tộc. Khác với Xpac, Nhà nước Aten có sự tổ chức bộ máy nhà nước khác biệt, bao gồm hội nghị công dân: thành viên bao gồm công dân nam Aten trên 18 tuổi có quyền tự do bàn bạc thảo luận các vấn đề quan trọng. Tiếp là Hội đồng 500 người chia làm 10 ủy ban với nhiệm vụ thi hành và giải quyết vấn đề quan trọng trong hội nghị công dân, giám sát công việc nhà nước, quản lý tài chính. Hội đồng 10 thủ lĩnh: được bầu ra trong hội nghị công dân có nhiệm vụ thống lĩnh quân đội, giám sát hội nghị công dân. Đặc biệt có sự khác biệt so với Xpac là có thêm Tòa bồi thẩm chuyên xét xử giám sát tư pháp, thẩm phán được công dân Aten bỏ phiếu bầu ra.
 Cơ quan nhà nước Xpac đều do giai cấp quý tộc nắm giữ điều hành và bảo vệ lợi ích cho giai cấp mình, trong khi đó nhà nước Aten các cơ quan đều do công dân Aten lập ra có sự dân chủ tiến bộ. Tuy nhiên sự hạn chế dân chủ của cả hai nhà nước cũng được thể hiện đó là chỉ có công dân của Nhà nước đó mới có quyền tham gia chính trị, có sự phân biệt giai cấp.
17/ Nhận xét quan điểm cho rằng:” Hệ thống pháp luật luật La Mã là hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhất của nhà nước chiếm hữu nô lệ”.
Trả lời:
Quan điểm trên là đúng, Luật La Mã là bộ luật hoàn chỉnh nhất của nhà nước chiếm hữu nô lệ.
• Thứ nhất Luật La Mã dựa trên nền tảng của nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ, quan hệ nô lệ phát triển mạnh và mang tính điển hình đòi hỏi phải có hệ thống luật chặt chẽ chi phối mối quan hệ xã hội đó; lãnh thổ của đế quốc không ngừng được mở rộng do các cuộc chiến tranh xâm lược nên có nhiều kế thừa, sự kết hợp nhiều hệ thống pháp luật của những nước bị xâm lược.
• Thứ hai nó được thể hiện trên nguồn của bộ Luật, được lấy từ những nguồn sau: Những quyết định của hoàng đế La Mã; Các quyết định của cơ quan quyền lực cao nhất (viện nguyên lão); Các quyết định của toàn án; Các quyết định của các quan thái thú các tỉnh trong trường hợp không có luật điều chỉnh; Tập quán pháp; Hệ thống hóa luật pháp, các công trình của luật gia La Mã. Hệ thống nguồn luật rất phong phú.
• Thứ ba, pháp luật có những bước phát triển vượt bậc, đưa ra nhiều khái niệm chuẩn xác, có giá trị pháp lý cao. Kỹ thuật lập pháp chuẩn xác, từ ngữ rõ ràng trong sáng. Điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội quan trọng, phổ biến, đặc biệt là các quan hệ trong lĩnh vực dân sự.
18/ Tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến Trung Quốc triều đại Tần, Đường, Minh.

1. Nhà Tần (221-206 TCN)

Cửu Khanh gồm 9 viên quan phụ trách các công việc khác nhau : Đình uý coi việc hình, Thiếu phủ coi việc thuế khoá, Lang trung lệnh cai quản quân túc vệ nhà vua, Vệ uý trông coi cung điện…
Hoàng Đế có quyền lực tối cao. Mọi công việc quan trọng của nhà nước đề do các đại thần thảo luận nhưng Hoàng Đế là người quyết định cuối cùng, mệnh lệnh của Hoàng Đế phải được chấp hành tuyệt đối.
Dưới quận là huyện, đứng đầu là huyện lệnh. Dưới huyện là xã, đứng đầu là xã trưởng. Các quan đứng đầu Quận, Huyện đều do TƯ bổ nhiệm.
 Bộ máy nhà nước dưới triều Tần được tổ chức một cách quy củ, chặt chẽ, là sự phát triển cả về lượng và chất. Đây là cuộc cải cách bộ máy nhà nước lần đầu tiên ở Trung Quốc, đặt nền móng cho các triều đại tiếp theo.

2. Nhà Đường (618-907) – triều đại cực thịnh trong lịch sử phong kiến Trung Quốc,lừng lẫy hơn cả thời nhà Hán, tổ chúc HC-QS rất chặt chẽ, quân đội cơ động và linh hoạt, hậu cần giỏi, hoạt động bành trướng và ngoại giao rộng lớn

3. Nhà Minh (1368-1644)

Năm 1368, Chu Nguyên Chương lãnh đạo phong troà nông dân nổi dậy, lên ngôi Hoàng Đế, lập ra nhà Minh.
Năm 1376, nhà Minh tiến hành một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy nhà nước, làm cho cơ chế thực hiện quyền lực quân chủ phát triển tới mức chuyên chế cực đoan.

Mọi quyền lực tập trung trong tay Hoàng Đế, chức thừa tướng bị bãi bỏ, từng bộ của lục bộ phải chịu trách nhiệm trực tiếp dưới nhà vua. Ngoài ra còn có các cơ quan khác như Hàn lâm viện, quốc tử giám, tư thiên giám…
Quân đội : đặt ra ngũ quân đô đốc phủ (trung, tả, hữu, tiền, hậu). Khi có chiến tranh, Hoàng Đế cử tướng soái chỉ huy quân đội, khi kết thúc họ trả ấn tín cho nhiệm sở. Bằng cách đó, xây dựng được một hàng ngũ võ quan có tài và vua trực tiếp nắm chắc được quân đội.

Nguyên tắc :
– Bỏ bớt khâu trung gian, Hoàng Đế trực tiếp chỉ huy các chức quan quan trọng.
– Quyền hành không tập trung vào một quan chức mà được tản ra nhiều cơ quan khác nhau như Lục bộ, Tam ti.
19/ Trạng thái phân quyền cát cứ của nhà nước phong kiến Tây Âu
Thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến :
– Hình thành và củng cố : TK 2 đến trước năm 843
– Phát triển : sau năm 843 đến TK15
– Khủng hoảng, suy vong : TK 15 đến TK 17
Quan hệ PK được thể hiện :
– Quan hệ bóc lột bằng địa tô được thể hiện rõ nhất, đặc trưng của chế độ phong kiến
– Mối quan hệ giữa hai giai cấp cơ bản : địa chủ (lãnh chua PK) và nông dân (nông dân). Đây là mối quan hệ bất bình đẳng về mọi mặt. Nông dân hoàn toàn phụ thuộc vào địa chủ PK, không có ruộng đất.
– Chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất : tập trung vào tay giai cấp PK là nhiều nhất và gần như tuyệt đối.
– 843 : chế độ phân quyền cát cứ xuất hiện, ngày càng phát triển.
Biểu hiện của chế độ phân quyền cát cứ :
– Nguyên nhân :
• Nguyên nhân sâu xa : đế quốc Frăng được dựng lên do kết quả của những cuộc chiến tranh xâm lược và được duy trì bằng bạo lực, không có cơ sở kinh tế, chỉ là một liên hiệp tạm thời, không vững chắc. Trong phạm vi cả Tây Âu và phạm vi từng nước đều có khuynh hướng phát triển riêng, muốn tách ra khỏi sự ràng buộc của chính quyền TƯ.
• Nguyên nhân cơ bản, có tính quyết định là về kinh tế. Trong đó, trước hết phải nói đến chế độ sở hữu phong kiến về ruộng đất. Đó là sở hữu tư nhân rất lớn của PK. Được hình thành bằng hai nguồn : thứ nhất là chế độ phân phong ruộng đất và chế độ thừa kế ruộng đất, thứ hai là số ruộng đất ít ỏi của những nông dân tự do, nằm rải rác trong những khu đất dai của lãnh chúa. Chế độ phân phong và thừa kế dẫn tới hậu quả quyền sở hữu tối cao về ruộng đất không thuộc về nhà vua và dẫn tới trạng thái phân quyền cát cứ.
• Về giao thông, do chiến tranh liên miên lại không được sửa chữa nên việc đi lại gặp rất nhiều khó khăn và không an toàn. Vì vậy, liên hệ từng vùng không thường xuyên chặt chẽ.
• Ngoài ra, từng nước còn có những nguyên nhân khác.
VD : ở Pháp, có những thời kỳ mà ruộng đất của nhà vua ít hơn rất nhiều so với ruộng đất của các lãnh chúa PK, thế lực của nhà vua rất hạn chế. Những làn chúa lớn thường áp đảo nhà vua và tranh giành quyền lợi với nhau.
Nói đến trạng thái phân quyền cát cứ là nói đến lãnh địa và lãnh chúa PK. Đất đai được phân phong lần lượt trở thành tư hữu và tạo nên lãnh địa. Nà vua ở TƯ thực tế cũng chỉ là một lãnh chúa mà thôi. Có hai loại lãnh địa là lãnh địa PK và lãnh địa của giáo hội thiên chúa.
– Phân quyền cát cứ là trạng thái cơ bản nổi bật nhất trong thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến Tây Âu. Nó bao trùm, chi phối mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính trị phong kiến.
• Kinh tế : Nền kinh tế của lónh địa là nền kinh tế tự cung tự cấp. Lãnh địa có nhiều trang viên, các trang viên lại được chia thành hai phần, một phần do lãnh chúa trực tiếp quản lý, một phần được chia thành nhiều khoanh nhỏ để nông dân thuê lĩnh canh.
• Xã hội : Quan hệ cơ bản trong xã hội là quan hệ giữa lãnh chúa với nông dân. Nông dân coa ba loại : nông dân tự do, lệ dân và nông nô. Lệ dân và nông dân tự do trước sau gì cũng bị biến thành nông nô, cả đời phụ thuộc chặt chẽ vào lãnh chúa, làm lao dịch không công, nộp địa tô cho địa chủ…So với nô lệ trong xã hội cổ đại thì thân phận của nông nô có khá hơn, họ có nhà cửa, công cụ sản xuất, kinh tế gia đình riêng.
• Chính trị : Những tước vị và chức vụ mà nhà vua trao cho lãnh chúa nay trở thành cha truyền con nối, biến luôn khu vực HC đứng đầu thành lãnh địa riêng, biến thần thuộc, thần dân nhà vua thành thần thuộc, thần dân của lãnh chúa, có toà án xét xử riêng. Lãnh chúa có quyền đúc tiền, thu thuế..bộ phận quân đội của lãnh chúa hoàn toàn tách khỏi sự điều động của nhà vua. Giữa các lãnh chúa thường xảy ra chiến tranh nhằm mở rộng lãnh địa, quyền lực, tài sản.
Như vậy, trên thực tế, các lãnh địa đã biến thành những quốc gia nhỏ. Các lãnh chúa trở thành vua trên lãnh địa của mình, có đầy đủ các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, có quân đội, toà án, luật lệ riêng. Chính trong trạng thái phân quyền cát cứ, quan hệ PK được thể hiện rõ nét nhất, đây cũng là thời ký phát triển của chế độ PK Tây Âu.
20/ Tính không thống nhất của pháp luật phong kiến Tây Âu.

Tính không thống nhất của pháp luật phong kiến Tây Âu được biểu hiện ở nguồn luật và các chế định pháp luật. Nội dung của pháp luật phong kiến Tây Âu mang tính đặc quyêng, đặc lợi, bảo vệ địa vị của giai cấp địa chủ PK. Các bộ luật tiêu biểu : bộ luật Xa lích ( cuối TK 5, đầu TK 6), luật Vidigốt, luật Xắc xông…
– Thứ nhất là tính không thống nhất về nguồn luật : PLPK Tây Âu có nguồn luật rất đa dạng và phức tạp.
• Tập quán pháp : nguồn quan trọng nhất của PL, bắt nguồn từ nhiều phong tục tập quán của bộ tộc người Giéc-manh.
• Những quy định dẫn chiếu từ luật La Mã cổ đại. Nguyên nhân : PL thành văn của chế đọ PK ra đời chậm, tập quán pháp lại không bao trùm được các QHXH phổ biến, luật La Mã điều chỉnh rất rộng và cụ thể các QHXH, kĩ thuật lập pháp rõ ràng, chuẩn xác.
• Luật pháp của triêu đinhg PK, bao gồm chiếu chỉ,mệnh lệnh của nhà vua, các án lệ và quyết định của toà án nhà vua.
• Luật lệ giáo hội thiên chúa giáo. Nó không chỉ điều chỉnh các quan hệ tôn giáo mà còn cả các quan hệ khác trong XH như QH hôn nhân, thừa kế…
• Luật lệ của các lãnh chúa, chính quyền ở các thành phố tự trị.
Tuỳ từng vùng, từng thời kì, vai trò và việc sử dụng các nguồn luật là khác nhau.
VD: ở miền Bắc nước Pháp, yếu tố kinh tế hàng hoá kém phát triển nên sử dụng chủ yếu là tập quán pháp của bộ luật Xa lích; ở miền Nam nước Pháp, yếu tố kinh tế hàng hoá phát triển hơn, luật La Mã có ảnh hưởng sâu và rộng, luật thành văn cũng sớm phát triển hơn so với miền Bắc.
Nhưng nhìn chung, PLPK Tâu Âu thành văn ra đời muộn, kém phát triển lại được biên soạn rất đơn giản, hầu như chỉ quy định việc nộp phạt của các loại tội. Mãi đến TK 11-12, PL thành văn mới phát triển.
– Thứ hai là sự không thống nhất về các chế định pháp luật. Do chế độ phân quyền cát cứ, ở các lãnh địa riêng đều có luật lệ riêng, toà án riêng nên có sự không thống nhất về các chế định pháp luật.
VD : Chế định về hôn nhân gia đình là không thông nhất. Đối với cùng một vụ việc trong các bộ luật của các vùng khác nhau, ở các thời kỳ khác nhau là khác nhau. ở thời kỳ đầu, theo phong tục, người phụ nữ goá phải lấy anh hoặc em trai chồng (chưa vợ) nhưng theo bộ luật Xa lích, người phụ nữ goá có thể lấy người khác với 2 điều kiện là phải được gia đình chồng cũ cho phép và người chông mới phải nộp một số tiền cho gia đình người chồng cũ.
21/ Trình bày những điều kiện kinh tế – xã hội của sự ra đời và tồn tại nền quân chủ phân quyền cát cứ ( từ thế kỉ IX đến thế kỉ XV) ở Tây Âu thời Phong kiến.
Về điều kiện kinh tế: Chế độ sở hữu phong kiến về ruộng đất quá lớn. Ruộng đất được phân phong và thừa kế, làm cho 1 số ít người sở hữu nhiều ruộng đất. Số ruộng đất ít ỏi của nông dân tự do lại nằm rải rác trong lãnh địa của lãnh chúa.
Về điều kiện xã hội: Quan hệ xã hội lúc bấy giờ vẫn là quan hệ giữa lãnh chúa và nông nô. Lãnh chúa nắm phần lớn đất đai, nông nô bị phụ thuộc hoàn toàn vào lãnh chúa => quyền lực tập trung cả vào tay lãnh chúa.
Năm 843, chế độ phân quyền cát cứ ở Tây Âu xuất hiện và ngày càng phát triển.
Nguyên nhân cơ bản dẫn tới trạng thái phân quyền cát cứ ở Tây Âu là nền Kinh tế.
Chế độ phân phong và thừa kế dẫn tới hậu quả quyền sở hữu tối cao về ruộng đất không thuộc về nhà vua và dẫn tới trạng thái phân quyền cát cứ.
Phân quyền cát cứ là trạng thái cơ bản nổi bật nhất trong thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến Tây Âu.
+ Kinh tế : Nền kinh tế của lãnh địa là nền kinh tế tự cung tự cấp. Lãnh địa có nhiều trang viên, các trang viên lại được chia thành hai phần, một phần do lãnh chúa trực tiếp quản lý, một phần được chia thành nhiều khoanh nhỏ để nông dân thuê lĩnh canh.
+ Xã hội : Quan hệ cơ bản trong xã hội là quan hệ giữa lãnh chúa với nông dân. Nông dân có ba loại : nông dân tự do, lệ dân và nông nô. Lệ dân và nông dân tự do trước sau gì cũng bị biến thành nông nô, cả đời phụ thuộc chặt chẽ vào lãnh chúa, làm lao dịch không công, nộp địa tô cho địa chủ…So với nô lệ trong xã hội cổ đại thì thân phận của nông nô có khá hơn, họ có nhà cửa, công cụ sản xuất, kinh tế gia đình riêng.
22/ Trạng thái phân quyền cát cứ ở Tây Âu thời phong kiến có ảnh hưởng như thế nào đến tổ chức bộ máy nhà nước
Trạng thái phân quyền cát cứ ở Tây Âu thời phong kiến đã biến đổi bộ máy nhà nước.
Những tước vị và chức vụ mà nhà vua trao cho lãnh chúa nay trở thành cha truyền con nối, biến luôn khu vực hành chính đứng đầu thành lãnh địa riêng, biến thần thuộc, thần dân nhà vua thành thần thuộc, thần dân của lãnh chúa, có toà án xét xử riêng. Lãnh chúa có quyền đúc tiền, thu thuế..bộ phận quân đội của lãnh chúa hoàn toàn tách khỏi sự điều động của nhà vua. Giữa các lãnh chúa thường xảy ra chiến tranh nhằm mở rộng lãnh địa, quyền lực, tài sản => Lãnh chúa trở thành người đứng đầu lãnh địa của mình.
Như vậy, trên thực tế, các lãnh địa đã biến thành những quốc gia nhỏ. Các lãnh chúa trở thành vua trên lãnh địa của mình, có đầy đủ các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, có quân đội, toà án, luật lệ riêng. Chính trong trạng thái phân quyền cát cứ, quan hệ PK được thể hiện rõ nét nhất, đây cũng là thời ký phát triển của chế độ PK Tây Âu.

23/ Phân tích những điều kiện kinh tế – xã hội dẫn đến xác lập nền quân chủ chuyên chế ở Tây Âu thời kỳ phong kiến.

Trả Lời:
Điều kiện kinh tế – xã hội
Thế kỷ 15, Tây Au bước vào giai đoạn phong kiến hậu kỳ. Trong thời kỳ này, sự phát triển của kinh tế làm cho xã hội Tây Au có nhiều thay đổi sâu sắc.
– Về kinh tế
+ Công thương nghiệp đạt được những thành tựu quan trọng. Việc phát minh ra lò cao, máy hơi nước, máy dệt, máy in… làm cho nhiều ngành công nghiệp phát triển. Sự phân công lao động thủ công được đẩy mạnh, nhiều nghề mới ra đời. Lao động thủ công từ hợp tác đơn thuần tiến dần lên công trường thủ công – hình thức đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa.
+ Trong nông nghiệp, tuy không có sự phát triển vượt bậc như trong công nghiệp, không có sự phân công lao động một cách tỉ mỉ, nhưng nó cũng có nhiều tiến bộ đáng kể, như: khối lượng nông sản phẩm, diện tích gieo trồng tăng lên, phương pháp canh tác tiến bộ. Ngoài cung cấp lương thực, nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến. Một số địa phương còn có xu hướng chuyên môn hoá việc cung cấp nguyên liệu là nông sản.
– Về xã hội
+ Trên cơ sở của sức sản xuất, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được hình thành. Hàng loạt nông dân mất hết ruộng đất, nhiều thợ thủ công bị phá sản, trở thành đội ngũ của những người làm thuê. Giai cấp tư sản hình thành và ngày càng khẳng định được vị trí của nó trong xã hội phong kiến.
+ Do nhu cầu cần có một thị trường thống nhất, cần có một chính quyền mạnh để bảo hộ kinh doanh, sản xuất và mua bán, giai cấp tư sản đã liên minh và giúp đở nhà Vua để chống lại bọn lãnh chúa phong kiến cát cứ và xây dựng một nhà nước trung ương tập quyền.
+ Trong khi đó, lãnh chúa phong kiến ngày càng tăng cường bóc lột nông dân làm cho mâu thuẫn giữa lãnh chúa phong kiến với nông dân trở nên gay gắt. Giai cấp tư sản lợi dụng phong trào quần chúng để tấn công vào bọn lãnh chúa phong kiến, làm suy yếu lực lượng của chúng.
+ Trong tình hình đó, chính quyền nhà vua đã phải dựa vào lực lượng của giai cấp tư sản để củng cố sự thống trị của mình. Kết quả là, vào các thế kỷ 15 – 16, chế độ quân chủ chuyên chế đã lần lượt được thiết lập ở các nước Tây Au.

24/ Phân tích những điều kiện kinh tế – xã hội dẫn đến sự xuất hiện chế độ tự trị của các thành thị ở Tây Âu thời kỳ phong kiến.

Trả lời:
Điều kiện kinh tế
Đến thế kỷ thứ 11, nền kinh tế Châu Au phát triển vượt bậc, chủ yếu là trong lĩnh vực thủ công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp.
– Trong thủ công nghiệp, nhiều ngành nghề mới ra đời với trình độ kỹ thuật ngày càng hoàn thiện (luyện kim, khai mỏ, chế tạo vũ khí, thuộc da, dệt len, dạ…).
– Trong nông nghiệp, do có nhiều tiến bộ, như: nông cụ được cải tiến, đồ sắt được sử dụng phổ biến trong xã hội, diện tích canh tác không ngừng được mở rộng… làm cho sản lượng và số lượng nông sản ngày càng nhiều đa dạng.
– Thương nghiệp do đó cũng phát triển. do thợ thủ công và nông dân đều tạo ra những sản phẩm dư thừa, họ phải nhờ tới lực lượng thương nhân. Nhờ vậy, người thợ thủ công không cần sản xuất nông nghiệp cũng có cái để ăn và người nông dân không cần sản xuất thủ công nghiệp cũng có dụng cụ, đồ dùng … Mặt khác, nông nghiệp còn là nơi cung cấp nguyên vật liệu cho ngành thủ công nghiệp. Điều này tạo điều kiện cho các thợ thủ công có cơ hội thoát ly hoàn toàn khỏi nông nghiệp để chuyên môn hoá ngành nghề của mình.
Sự lao động trong xã hội lại một lần nữa được phân công, làm cho kinh tế trong xã hội khôi phục sau cuộc khủng hoảng của chế độ chiếm hữu nô lệ. Chính sự phân công lao động này là điều kiện quan trọng để dẫn đến sự ra đời của các thành thị ở Tây Au trong thời kỳ trung đại.
Điều kiện xã hội
Thế nhưng, nếu chỉ có các điều kiện kinh tế như trên thì vẫn chưa dẫn đến sự ra đời của thành thị ở Tây Au; mà bên cạnh các điều kiện kinh tế đó, còn có sự tác động của điều kiện xã hội.
• Sự đối kháng giai cấp
Một trong các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành các thành thị tại Tây Au là sự đối kháng giai cấp xảy ra giữa nông nô, cũng như giữa những người nông dân lệ thuộc khác với các lãnh chúa phong kiến.
– Những người nông nô có tay nghề thủ công chuyên nghiệp vì muốn thoát khỏi sự bóc lột của lãnh chúa phong kiến, nên họ đã tìm đủ mọi cách để trốn khỏi các trang trại phong kiến.
Những người làm nghề thủ công này tập hợp tại một địa phương và dân số dần dần tăng lên. Người tới lui mua bán, trao đổi với họ ngày càng nhiều. Vì vậy mà những thành phố công thương nghiệp tập trung dần dần xuất hiện.
– Đối với nông nô, do muốn thoát khỏi sự bóc lột của lãnh chúa phong kiến nên họ rời bỏ ruộng đất, đến vùng thành thị để sinh sống và trở thành cư dân của thành thị, làm cho dân cư thành thị ngày càng phát triển. Do đó, thành thị cũng ngày càng phát triển theo.
– Đối với lãnh chúa phong kiến và những giáo sĩ thuộc gíao hội Cơ đốc giáo, do thấy công thương nghiệp ở thành thị có thể mang đến nguồn thu nhập cho mình, nên họ thường kêu gọi những người nông nô bỏ trốn đến vùng đất của họ để sinh sống dưới sự thống trị của họ.
Bên cạnh đó, sự xuất hiện của thành thị còn làm cho chất lượng của đời sống của lãnh chúa càng nâng cao, đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt của lãnh chúa.
Mặt khác, lúc này hình thức thu địa tô chủ yếu là tô hiện vật, làm cho các hiện vật trong nhà lãnh chúa trở nên dư thừa, ông ta muốnbán những thứ đó đi để lấy tiền, và ông ta ủng hộ, tạo điều kiện cho sự ra đời ngày càng nhiều, ngày càng phát triển của thành thị.
• Cuộc chiến tranh thập tự
Diễn ra trong khoảng thế kỷ thứ 11. Mục đích của các cuộc thập tự chinh này là nhằm chiếm các vùng đất giàu có, màu mỡ của phương Đông, của vùng đất Jêrusalem. Mặc dù cuộc chinh chiến này có chiếm cứ được một số vùng đất ở phương Đông trong một thời gian nhất định, nhưng cuối cùng vẫn thất bại nặng nề. Tuy nhiên, qua cuộc thập tự chinh này, các tộc người Giecmanh (vừa thoát khỏi chế độ côngxã thị tộc) đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm về mua bán đang phát triển của các quốc gia phươngĐông, tạo lập được mối quan hệ thương mại với các quốc gia này, làm cơ sở cho việc phát triển các thành thị ở phương tây.
Từ những điều kiện kinh tế – xã hội nói trên, thành thị đã xuất hiện hàng loạt ở Tây Au từ khoản thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 13 (chẳng hạn: Strasbourg, Saint Quentin, Saint Maur, Oxford, Frănkfut, Paris…

25/ Phân tích những điều kiện kinh tế – xã hội dẫn đến sự xuất hiện của chế độ đại diện đẳng cấp ở Tây Âu thời kỳ phong kiến.

Trả lời:
Điều kiện kinh tế – xã hội:
– Thế kỷ 11 ở Tây Âu các quốc gia đều ở chế độ phong kiến phân quyền: Đất nước chia ra làm nhiều lãnh địa phong kiến hoàn toàn tự trị. Các nhà vua chiếm giữ được một số lãnh địa và thành thị lớn, xây dựng vương quyền tương đối hùng mạnh, khống chế các lãnh chúa phong kiến. Các lãnh chúa phong kiến đều manh nha bạo động muốn đc độc lập.
– Các vương triều đều ra sức củng cố quyền lực, làm suy yếu các lãnh chúa phong kiến bằng nhiều cách:
o Thế kỷ 12, khi mà thủ công nghiệp phát triển làm cho các thành thị không ngừng lớn mạnh. Thị dân đấu tranh với các lãnh chúa pk, nhà vua ủng hộ thi dân với mong muốn làm cho quyền lực lãnh chúa suy yếu. Cùng với đó các giáo hội, nhà tu đều trở thành đồng minh của nhà vua nhằm thoát khỏi sự xâm phạm của lãnh chúa pk.
o Trong cuộc chiến tranh tang cường quyền lực nhà vua đc sự ủng hộ của thị dân, nên địa vị của thị dân trong chính quyền cuả nhà vua ngày càng được nâng cao.
– Cùng với đó nhà vua có mâu thuẫn với giáo hội, nên các lãnh chúa phong kiến nổi dậy chống đối, trước tình thế đó nhà vua rất cần sự ủng hộ của các tầng lớp khác để làm áp lực với giáo hội. Do đó, nhà vua dung nạp cả những đại biểu của thị dân và kỵ sĩ vào các kỳ đại hội quan trọng, bên cạnh tăng lữ và quý tộc.
26/ Nhà nước tư sản Anh thời cận đại (thời kỳ CNTB tự do cạnh tranh)

1. CMTS Anh và sự thiết lập chính thể quân chủ nghị viện :

Quan hệ sản xuất TBCN ra đời ngay trong lòng XHPK đã đáp ứng được nhu cầu về giải phóng sức lao động, thay thế cho QHSX PK đã lỗi thời, lạc hậu. QHSX TBCN với tính chất tiến bộ hơn đã thúc đẩy LLSX phát triển, điều này dẫn đến mâu thuẫn giữa QHSX PK với trình độ phát triển của LLSX, mâu thuẫn này càng ngày càng gay gắt. Giai cấp TS muốn tiến hành cuộc CMTS nhằm xoá bỏ QHSX PK, thíêt lập QHSX mới, đó là QHSX TBCN.CMTS Anh là cuộc cách mạng không triệt để.

– Chính thể CH nghị viện : không còn vua, chỉ có hai viện là thượng nghị viện (giai cấp quý tộc và tăng lữ, vì vậy bị giải tán) và hạ nghị viện (giai cấp TS, nắm quyền lập pháp và hành pháp)
– 2-1689, chính thể quân chủ nghị viện được thành lập, đạo luật quyền hành được ban bố, ngôi vua được thiết lập nhưng chỉ trị vì chứ không cai trị.

2. Tổ chức bộ máy NNTS Anh theo chính thể quân chủ nghị viện (thành phần,cách thức thành lập, vai trò quyền hạn).
a. Nguyên thủ quốc gia (Hoàng Đế – Nữ Hoàng)
– Cách thức thành lập : Theo nguyên tắc thừa kế
– Vai trò, quyền hạn :
• Vai trò : tượng trưng cho sự thống nhất, bền vững của quốc gia và dân tộc. Ngày Quốc khánh của nước Anh không cố định mà lấy theo ngày sinh của nguyên thủ quốc gia đương nhiệm.
• Quyền hạn : không có thực quyền trong bộ máy nhà nước, chính trị, có nguồn gốc sâu xa từ đạo luật quyền hành ban hành thàng 2-1689. Có quyền bổ nhiệm người đứng đầu chính phủ nhưng không thể bổ nhiệm một người nào khác nếu người đó không phải thủ lĩnh của Đảng cầm quyền.
b. Nghị viện:
– Thành phần :
• Thượng nghị viện (1885 người)
• Hạ nghị viện (635 đại biểu)
– Cách thức thành lập:
• Thượng nghị viện (viện nguyên lão): đại quý tộc mới, thượng nghị sĩ là những quý tộc có phẩm hàm từ bá tước trở lên thì được cha truyền con nối, các thủ tướng hết nhệm kì, một số hoàng thân quốc thích do HHĐ bổ nhiệm.
• Hạ nghị viện do đại diện các tầng lớp nhân dân bầu ra.
Vai trò, quyền hạn: rất lớn để hạn chế tới mức tối đa quyền hạn nhà vua, làm cho ngai vàng trở thành hư vị. Ban đầu, quyền hạn của thượng viện lớn hơn nghị viện nhưng về sau, hạ viện ngày càng có quyền lực, lấn át vai trò, quyền hạn của thượng nghị viện…Thượng viện hoạt động rất hình thức, mang tính chất danh nghĩa, vừa là thế lực kiềm chế và đối trọng của hạ viện. ở Anh có hai đảng thay nhau cầm quyền là đảng Tự do và đảng Bảo thủ.
+ Quyền lập pháp, ban hành Hiến pháp và luật
+ Quyền quyết định ngân sách và thuế
+ Quyền giám sát hoạt động nội các, bầu hoặc bãi nhiệm các thành viên của nội các.
+ Quyền thành lập chính phủ
c. Chính phủ
– Cách thức thành lập : được lập ra từ đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện, nếu số ghế ngang bằng nhau thì thanhg lập chính phủ liên minh các đảng; thủ lĩnh của đảng chiếm đa số ghế thì được bầu làm thủ tướng (người đứng đầu chính phủ), nếu số ghế ngang nhau thì Nghị viện chỉ bầu ra một thủ lĩnh đảng làm thủ tướng.
– Cơ cấu : đa dạng, bao gồm cả bộ trưởng, thứ trưởng, phụ tá…. (khoảng 40-60 người)
– Vai trò, quyền hạn : có quyền hành pháp, đưa lực lượng vũ trang ra ngoài gây chiến, có quyền ban hành tình trạng khẩn cấp trong nước Anh hay một vùng.
* Ngoài nguyên thủ quốc gia, nghị viện, chính phủ còn có hệ thống toà án, quân đội…
Hệ thống toà án gồm có hệ thống toà án TƯ và hệ thông toà án địa phương
Quân đội : sau CM chủ yếu đi xâm lược, mở rộng thị trường, lãnh thổ..
Cơ cấu lãnh thổ : đơn nhất, thông nhất một HP, một hệ thống luật, một hệ thống cơ quan từ TƯ tới địa phương, một quốc tịch, một hệ thống toà án.
Chế độ chính trị : 2 đảng bản chất phục vụ cho giai cấp TS sinh ra để phân chia quyền lực, ngăn căn đảng cộng sản nắm chính quyền.
Bản chất giai cấp : phục vụ cho giai cấp TS. Tuy vậy vẫn mang tính XH : đi đầu CN hoá, cơ giới hoá phục vụ cho các giai cấp trong xã hội.
Đầu TK 19 trở thành một quốc gia cường thịnh, rộng lớn, là đế quốc chiếm được nhiều thuộc địa nhất, “mặt trời không bao giờ lặn trên đất nước Anh”.
27/ Nhà nước tư sản Mỹ thời cận đại
1. Cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ. Sự thành lập Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
1607- 1752, Đế quốc Anh thiết lập 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ, biến nơi đây thành thị trường tiêu thụ cho chính quốc, sử dụng hình thức bóc lột PK và chiếm nô, tìm mọi cách ngăn chặn sự phát triển ở khu vực Bắc Mỹ…TS và CNTB ở Bắc Mỹ rất phát triển, mâu thuẫn với TS ở đế quốc Anh. Mâu thuẫn giữa các giai cấp, các thuộc địa với chính quốc ngày càng trở nên sâu sắc. Bởi vậy, nhân dân các thuộc địa dưới sự lãnh đạo của giai cấp TS đã nổi dậy tiến hành cuộc chiến tranh để giành độc lập. Đó là cuộc CMTS vì nó không chỉ dành độc lập cho các thuộc địa mà còn xoá bỏ tàn tích PK, dọn đường cho CNTB ở Bắc Mỹ phát triển mạnh mẽ.
Cuộc CMTS ở Bắc Mỹ khác với cuộc CMTS Anh năm 1640 vì nó là một cuộc CMTS triệt để, thể hiện ở :
– 12/1773, Sự kiện chè Boston đã châm ngòi cho cuộc chiến
– 9/3/1783, TD Anh buộc phải chính thức ký kết hiệp định Vec-xai.Cuộc CMTS ở Bắc Mỹ chỉ diễn ra trong vòng 10 năm nhưng rất triệt để.
– 4/7/1776, bản tuyên ngôn độc lập ra đời khẳng định quyền con người, khảng định chính quyền là của nhân dân, do nhân dân thiết lập nên và có quyền đánh đổ khi chính quyền đó đi ngược lại lợi ích của nhân dân; nó cũng khẳng đínhự tồn tại của nền chuyên chế PK, buộc phải lật đổ để thiết lập nền dân chủ.
– 10/1776, một số bang giành được độc lập, hội nghị lục địa được triệu tập, các điều khoản liên bang với nội dung chủ yếu là thiết lập uỷ ban lâm thời để lãnh đạo cuộc CM, quyền lực của mỗi bang là rất lớn, chính quyền liên bang có quyền lực rất hạn chế.

2. Hiến pháp 1787-Tổ chức bộ máy NNTS Mỹ
b. Nguyên tắc xây dựng hiến pháp : theo nguyên t¾c tam quyền phân lập.
– Quyền lực nhà nước buộc phải chia thành các nhánh quyền lực khác nhau
– Các nhánh quyền lực này phải do các cơ quan khác nhau nắm giữ
– Mỗi nhánh quyền lực phải chịu sự kiểm tra, giám sát của các nhành quyền lực khác.
 Tạo ra thế kiềm chế, đối trọng giữa các nhánh quyền lực.
c. Tổ chức bộ máy NNTS Mỹ :
o Nguyên tắc
– Nguồn gốc 3 nhánh quyền lực là khác nhau, HP quy định đối tượng cử tri bầu ra các nhánh là khác nhau.
– Các nhánh có nhiệm kỳ khác nhau
– 3 cơ quan này luôn phải thực hiện nguyên tắc kiềm chế, đối trọng để không cơ quan nào nắm trọn vẹn quyền lực nhà nước.
o Nhà nước TS Mỹ là nhà nước TS điển hình nhất của chính thể cộng hoá tổng thống.ở chính thể này, tổng thông vừa là nguyên thủ QG, vừa là người đứng đầu cơ quan hành pháp. Chính phủ chỉ cịu trách nhiệm trước tổng thống, không chịu trách nhiệm trước nghị viện, không thể bị nghị viện giải tán.
o Nghị viện : Điều 1 khoản 1 HP 1787 quy định, mọi thẩm quyền lập pháp đều thuộc về nghị viện. Nghị viện bao gồm thượng viện và hạ viện.
– Thượng viện : Là CQ đại diện của các bang. Mỗi bang được bầu ra 2 thượng nghị sĩ vì thẩm quyền độc lập được trao cho thượng nghị viện, trong quá trình biểu quyết giữa các bang luôn bảo đảm quyền lợi bình đẳng.
Thẩm quyền độc lập : Thẩm quyền độc lập :
• quyền kết tội các quan chức cao cấp của chính phủ.
• kìm chế quyền hành pháp cao nhất của tổng thống :phê chuẩn các quan chức cao cấp do tổng thống bổ nhiệm.
• quyền tư pháp : bổ nhiệm các chánh án và thẩm phán của các viện tối cao
• các đại sứ ngoại giao và điều ước Quốc tế do tổng thống bổ nhiệm phải được thượng nghị viện phê chuẩn.
– Hạ nghị viện : là cơ quan dân biểu, số lượng : 435 hạ nghị sĩ, nhiệm kỳ 2 năm. Được quyền phê chuẩn các dự án lợi tức của chính quyền liên bang.
– Thẩm quyền chung :
• Thông qua các dự án luật
• Thông qua các chính sách thuế và giám sát quá trình thu thuế
• Tuyên bố tình trạng chiến tranh và chấm dứt chiến tranh
• Nhận xét :
NNTS Mỹ duy trì chế độ lưỡng đảng cân bằng, thẩm quyền mỗi viện là rất lớn và tương xứng, đặc biệt thẩm quyền chung của Nghị viện Mỹ khi luôn quy định biểu quyết là 2/3, làm cho các quyết định được thông qua ở nghị viện mang tính chính xác rất cao. Chức năng quyền hạn của nghị viện Mỹ trên thực tế là kìm chế, đối trọng với các nhánh quyền lực khác, đặc biệt là quyền hành pháp. Nghị viện của NNTS Mỹ là nghị viện hoạt động có hiệu quả nhất và có quyền năng thực chất nhất.
o Tổng thống : Điều 2 khoản 1 HP 1787 quy định: mọi quyền hành pháp cao nhất thuộc về Tổng thống hợp chủng quốc Hoa kì. Thế quyền của Tông thống Mỹ là một trong những thế quyền nắm bắt quyền lực lớn nhất. Nước Mỹ không thể một ngày không có Tổng thống.
• Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa đứng đầu cơ quan lập pháp, có quyền lập ra chính phủ của mình. HP Mỹ còn trao cho Tổng thống trọng trách là điều hành, quản lý làm cho HP&PL được thực thi một cách tốt nhất. Với quy định ấy, Tổng thống là người duy nhất có quyền quản ký nhà nước.
• Biểu hiện : HP&PL không trao cho phó tổng thống và các bộ trưởng bất kỳ một thẩm quyền độc lập nào của chính quyền liên bang.
• Điều kiện để được đi tranh cử tông thống :
– 35 tuổi trở lên,
– phải được sinh ra tại nước Mỹ,
– 14 năm làm việc và sinh sống tại bang ra tranh cử,
– nhiệm kỳ 4 năm, không đương chức quá 2 nhiệm kỳ
• Thẩm quyền, quyền hạn :
– Nhánh quyền hành pháp : là người duy nhất có quyền bổ nhiệm các bộ trưởng để thành lập chính phủ của mình. Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm trước Tổng thống, không chịu trách nhiệm trước nghị viện. Chính phủ chỉ là cơ quan tư vấn, giúp việc cho tổng thống. Ngoài ra, Tổng thống còn được quyền ban bố tất cả các loại văn bản như chỉ thị, quyết định mà không cần phải có sự phê chuẩn của nghị viện.
– Nhánh quyền lập pháp : có quyền phê chuẩn tất cả các đạo luật quyền phủ quyết của tổng thống đối với các đạo luật đã được nghị viện thông qua.
– Chỉ duy nhất Tổng thống được quyền triệu tập các phiên hopc đặc biệt hoặc của mỗi viện, hoặc cả hai viện mà ở các phiên họp ấy, Tổng thống thông báo những vấn đề quan trọng nhất của chính quyền liên bang.
– Quyền tư pháp : được quyền bổ nhiệm tất cả các thành viên của pháp viện tối cao toàn liên bang với nhiệm kỳ suốt đời.
– Quyền ân xá tội phạm
– Quyền quân sự và đối ngoại : Tổng thống là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, có quyền bổ nhiệm các tướng lĩnh cao cấp trong quân đội, là người đứng đầu các lực lượng an ninh QG, cho phép Tổng thống được sử dụng lực lượng quân đội để bảo vệ hoà bình và an ninh nước Mỹ.
– Được quyền tuyên bố và chấm dứt tình trạng khẩn cấp
– Được quyền bổ nhiệm các đại sứ ngoại giao, ký các điều ước quốc tế, đông thời có trách nhiệm bảo vệ người Mỹ sinh sông và làm việc ở nước ngoài cũng như người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Mỹ thông qua con đường ngoại giao.
o Pháp viện tối cao : gồm 9 thẩm phán do Tổng thống bổ nhiệm và được sự chấp thuận của thượng nghị viện. Quyền hạn :
– Phán quyết các đạo luật có hợp hiến hay không
– Giải thích PL
– Quyền tối cao về xét xử
d. Thủ đoạn hai đảng tư sản thay nhau cầm quyền
Mục đích :
– Bảo đảm giai cấp tư sản độc quyền thống trị nhà nước
– Ngăn chặn đại biểu của quần chúng nhân dân trở thành quan chức trong bộ máy NNTS
– Các đảng TS là nơi cung cấp đội ngũ quan chức cho bộ
e. Chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước TS Mỹ
• Chức năng đối nội :
– Duy trì, củng cố, bảo vệ sự thông trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng của giai cấp TS trong XH TBCN
– Quản lý nền kinh tế TBCN
– Giải quyết những vấn đề XH quan trọng và cấp bách
• Chức năng đối ngoại
– Phòng thủ đất nước, chống xâm lược từ bên ngoài
– Mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước trên TG
– Bành trướng, mở rộng thị trường như Mỹ Latinh, các nước ở châu á. Đến cuối TK 19, Mỹ trở thành đối thủ đáng gờm của các thực dân châu Âu trong cuộc chiến giành thuộc địa.
28/ Nội dung và ý nghĩa của hiến pháp tư sản Mỹ năm 1787
Năm 1787, Mỹ ban hành bản Hiến Pháp, trong đó ghi nhận thành lập Nhà nước Hợp chủng quốc Hoa Kỳ theo thể chế Cộng hoà Tổng thống và tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập. Về cơ cấu lãnh thổ, Hoa kỳ là nhà nước liên bang.
Nội dung của bản hiến pháp 1787:
Hiến Pháp Hoa Kì được phân chia làm 2 nội dung chính đó là :
Sự phân chia quyền lực Nhà nước thông qua tổ chức hoạt động bộ máy Nhà Nước và các quyền tự nhiên của con người.
Mục đích của việc quy định hai nội dung trên là để giới hạn quyền lực Nhà Nước và bảo vệ các quyền tự nhiên của con người tránh sự lạm quyền từ phía các cơ quan Nhà Nước.
29/ Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước tư sản Mỹ sau cách mạng tư sản
Nhà nước Tư sản Mỹ là nhà nước Tư sản điển hình nhất của chính thể cộng hóa tổng thống. Ở chính thể này, tổng thông vừa là nguyên thủ Quốc gia, vừa là người đứng đầu cơ quan hành pháp. Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm trước tổng thống, không chịu trách nhiệm trước nghị viện, không thể bị nghị viện giải tán.
Hình thức cấu trúc của nhà nước Mĩ là nhà nước Liên bang, được tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập”
Gồm 3 cơ quan chính là Nghị viện, Tổng thống và Pháp viện tối cao
Nghị viện nắm giữ chức năng lập pháp, mọi quyền lập pháp đều thuộc nghị viện. Nghị viện bao gồm Thượng nghị viện và Hạ nghị viện. Thượng Nghị viện là cơ quan đại diện của các bang. Mỗi bang được bầu ra 2 thượng nghị sĩ. Hạ nghị viện là cơ quan dân biểu, gồm 435 nghị sĩ, nhiệm kì 2 năm. Chức năng quyền hạn của nghị viện Mỹ trên thực tế là kìm chế, đối trọng với các nhánh quyền lực khác, đặc biệt là quyền hành pháp. Nghị viện của Nhà nước tư sản Mỹ là nghị viện hoạt động có hiệu quả nhất và có quyền năng thực chất nhất.
Tổng thống là người nắm giữ quyền hành pháp, là người tuyệt đối quan trọng đối với nhà nước, là người duy nhất có quyền quản lý nhà nước. Có quyền thành lập Chính phủ, bổ nhiệm các quan chức nhà nước, nắm quyền quân sự và đối ngoại….
Pháp viện tối cao là cơ quan nắm giữ quyền tư pháp. Gồm 9 thẩm phán do Tổng thống bổ nhiệm và được sự chấp thuận của Nghị viện. Có quyền hạn tối cao về xét xử, xác định tính hợp hiến của bộ luật và giải thích pháp luật.

30/ Lý giải nguyên nhân nhà nước Mỹ tổ chức theo hình thức chính thể cộng hòa Tổng thống.
Chính phủ quốc gia lúc bấy giờ không có quân đội chung, 9 bang có quân đội riêng và một số bang khác lại có hải quân riêng, tồn tại rất nhiều loại tiền, cả tiền xu lẫn tiền giấy, của cả liên bang và tiểu bang. ( sự không thống nhất tiền tệ và không có quân đội chung)
Sự kết thúc chiến tranh đã để lại hậu quả nghiêm trọng đối với các nhà buôn, những người đã cung cấp vũ khí và hàng hóa cho quân đội, họ đã mất đi những lợi thế có được,các chính sách thuế quan ở các bang có mâu thuẫn với nhau. (Các nhà buôn bị mất quyền lợi => kinh tế chậm phát triển)
Một chính quyền trung ương yếu kém, bị bó buộc trong ngoại giao với các nước khác.Hậu quả là một sự hỗn độn thực sự. (Bị nước ngoài bó buộc bởi quân sự)
Trong bối cảnh đó nảy sinh nhu cầu phải có một chính phủ trung ương mạnh hơn để thực thi một chính sách thống nhất.
Họ rất thận trọng với việc tập trung quyền lực cho 1 tổ chức hay cá nhân nào đó*.
Tư tưởng chủ đạo của những nhà lập Hiến pháp Hoa Kỳ là rất cần đến một nhà nước đủ mạnh để bảo vệ sự độc lập, phát triển kinh tế, duy trì an ninh quốc gia, nhưng cũng rất sợ sự tập trung quyền lực có thể trở thành sự chuyên chế của nhà nước. Với họ, Chính phủ hành pháp chỉ cần một cá nhân, với Quốc hội lập pháp, mặc dù là tập thể đông người bao gồm những đại diện do nhân dân bầu ra, nhưng rất có thể trở thành độc tài. Mà hậu quả độc tài của tập thể đông người cũng có tác hại không khác gì chế độ độc tài chuyên chế cá nhân của các vị vua chúa phong kiến Châu Âu. (Cẩn trọng với việc tập trung quyền lực)
Bên cạnh những nhu cầu khách quan, việc hình thành một cách thức tổ chức quyền lực nhà nước cũng bị ảnh hưởng bởi ý muốn chủ quan của những người sáng lập ra nước Mỹ, do nhu cầu của việc rút kinh nghiệm từ những bài học của lịch sử nhân loại. Các nhà lập quốc của Mỹ cho rằng, Quốc hội mặc dù là một tập thể đông người nhưng cũng không là gì cả, cũng có khi làm sai và nhất là có thể trở thành độc tài. Do đó, cần phải nghĩ ra các biện pháp nhằm kìm chế Quốc hội.
=> Từ tất cả các nguyên nhân trên mà chính thể cộng hòa tổng thống ra đời.

v\:* {behavior:url(#default#VML);}
o\:* {behavior:url(#default#VML);}
w\:* {behavior:url(#default#VML);}
.shape {behavior:url(#default#VML);}

 

 

Nhà Tây Chu

(TK12-771TCN)

Nhà Thương (TK16-TK12TCN)

Nhà Đông Chu

(771-221TCN)

Thời kỳ Xuân Thu-Chiến Quốc

Nhà Hạ (TK 21-16 TCN)

             

Normal
0
false

false
false
false

EN-US
X-NONE
X-NONE

/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-priority:99;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;
mso-para-margin-top:0in;
mso-para-margin-right:0in;
mso-para-margin-bottom:10.0pt;
mso-para-margin-left:0in;
line-height:115%;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:11.0pt;
font-family:”Calibri”,”sans-serif”;
mso-ascii-font-family:Calibri;
mso-ascii-theme-font:minor-latin;
mso-hansi-font-family:Calibri;
mso-hansi-theme-font:minor-latin;}

This entry was posted in Lịch sử NN & PL thế giới. Bookmark the permalink.