Chương 7: CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Chương 7:
CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
I- NHIỆM VỤ, Ý NGHĨA CỦA GIAI ÐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
Chuẩn bị xét xử vụ án hành chính là việc Tòa án có thẩm quyền tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ của vụ án; bước đầu đánh giá chứng cứ nhằm giúp Tòa án có các quyết định chính xác trong việc giải quyết vụ án; đồng thời còn giúp Tòa án có những kiến nghị kịp thời với cơ quan có thẩm quyền trong việc ban hành và thực hiện các quyết định hành chính liên quan đến công tác quản lý hành chính Nhà nước.
1. Nhiệm vụ của giai đoạn chuẩn bị xét xử
Giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án hành chính tập trung thực hiện các nhiệm
vụ cơ bản sau đây:
– Xác định được nội dung của vụ án, quyền và lợi ích của người khởi kiện, nội dung quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện; xác định quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện có hợp pháp hay không. Từ đó xác định có hay không có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại.
– Thu thập đầy đủ những chứng cứ liên quan đến vụ án theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định đế việc xét xử vụ án hành chính được khách quan và công bằng, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm.
2. Ý nghĩa của giai đoạn chuẩn bị xét xử
Giai đoạn chuẩn bị xét xử là giai đoạn tiếp theo ngay sau khi có quyết định thụ lý vụ án, và kết thúc khi hoàn tất các hồ sơ cần thiết cho việc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm.
Giai đoạn này có ý nghĩa rất quan trọng, được thể hiện như sau:
– Thu thập đầy đủ chứng cứ của vụ án nhằm làm cơ sở cho việc mở phiên
tòa xét xử sơ thẩm vụ án.
– Tạo điều kiện cho Thẩm phán tiến hành nghiên cứu một cách đầy đủ, kỹ lưỡng các tình tiết liên quan của vụ án để nắm được thực chất của vấn đề và đưa ra các quyết định hợp lý.
– Thông qua giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án có thể phát hiện những sai sót, khuyết điểm của cơ quan hành chính nhà nước trong quá trình hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Từ đó, có những kiến nghị nhằm giúp tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động chấp hành và điều hành.
– Giai đoạn này góp phần giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân, trong các tổ chức và cơ quan.
3. Căn cứ pháp luật để xem xét quyết định hành chính, hành vi hành chính hợp pháp hay bất hợp pháp
69
Khi giải quyết vụ án hành chính, căn cứ để xem xét quyết định hành chính, hành vi hành chính đúng hay sai là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất quy định về lĩnh vực đó đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm ra quyết định hành chính hay có hành vi hành chính mà bị khiếu kiện.
Ví dụ: Nghị định của Chính phủ quy định về thu thuế đối với một loại hoạt động nào đó với mức tối đa là 5% tổng giá trị lợi nhuận thu được. Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính cũng hướng dẫn mức tối đa là 5% tổng giá trị lợi nhuận thu được. Ủy ban nhân dân tỉnh X căn cứ vào địa phương mình cho rằng phải thu cao hơn nên ra văn bản hướng dẫn việc thu thuế đối với loại hoạt động này ở địa phương mình với mức tối đa là 8% tổng giá trị lợi nhuận. Khi thu thuế, cán bộ có thẩm quyền chỉ căn cứ và văn bản của UBND tỉnh nên ra quyết định thu thuế 7% tổng giá trị lợi nhuận. Quyết định về thu thuế này bị khiếu kiện. Trong trường hợp này, Nghị định của Chính phủ có giá trị pháp lý cao nhất và căn cứ vào Nghị định của Chính phủ, thì quyết định về thu thuế của cán bộ có thẩm quyền là không đúng. Do đó, khi xét xử Tòa án quyết định hủy bỏ quyết định về thu thuế nói trên và yêu cầu cơ quan đã ra quyết định thu thuế phải sửa lại quyết định của mình; đồng thời Tòa án cần kiến nghị với UBND tỉnh X để UBND tỉnh X tự hủy bỏ văn bản hướng dẫn việc thu thuế trái với văn bản của cơ quan cấp trên như trong thí dụ này. Nếu trong thời gian nhất định mà vẫn chưa hủy bỏ, thì Tòa án yêu cầu Viện kiểm sát áp dụng các quy định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị văn bản nói trên.
II- CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 1. Thời hạn chuẩn bị xét xử
Thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định như sau:
a) 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án đối với khiếu kiện quyết định hành
chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc.
Đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có
thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử một lần, nhưng không quá 02 tháng. b) 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án đối với khiếu kiện quyết định giải quyết
khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
Đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có
thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử một lần, nhưng không quá 01 tháng Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công làm Chủ toạ phiên
toà phải ra một trong các quyết định sau đây: a) Đưa vụ án ra xét xử;
b) Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án; c) Đình chỉ việc giải quyết vụ án.
70
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trường hợp có lý do chính đáng, thì thời hạn mở phiên toà có thể kéo dài, nhưng không quá 30 ngày.
2. Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính
Toà án quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính trong các
trường hợp sau đây:
a) Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể mà chưa có cá
nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng;
b) Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được
người đại diện theo pháp luật;
c) Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không thể có
mặt vì lý do chính đáng, trừ trường hợp có thể xét xử vắng mặt các đương sự;
d) Cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc vụ việc khác có
liên quan.
Toà án tiếp tục giải quyết vụ án hành chính khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn.
Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
*Hậu quả của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính:
– Toà án không xoá tên vụ án hành chính bị tạm đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính đó.
– Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được gửi tại Kho bạc Nhà nước và được xử lý khi Toà án tiếp tục giải quyết vụ án hành chính.
3. Đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính
Toà án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính trong các
trường hợp sau đây:
a) Người khởi kiện là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; cơ quan, tổ chức đã giải thể mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng;
b) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Toà án chấp nhận;
c) Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt;
71
d) Người bị kiện hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đồng ý rút yêu cầu;
đ) Các trường hợp mà Tòa án đã thụ lý gồm:
– Người khởi kiện không có quyền khởi kiện;
– Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính;
– Thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lý do chính đáng;
– Chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính;
– Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;
– Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án;
– Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu
nại;
– Đơn khởi kiện không có đủ nội dung theo quy định mà không được người
khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định;
– Hết thời hạn được thông báo theo quy định mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Toà án, trừ trường hợp có lý do chính đáng.
Khi ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, Toà án trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ cho đương sự nếu có yêu cầu.
Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
* Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án hành chính:
Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án hành chính đó, nếu việc khởi kiện này không có gì khác với vụ án đã bị đình chỉ về người khởi kiện, người bị kiện và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp bị đình chỉ như:
– Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính;
– Chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính;
– Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật này;
72
– Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Toà án chấp nhận;
– Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.
Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được xử lý theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Toà án.
4. Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ hoặc quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính đó.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ hoặc quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, Toà án phải gửi quyết định đó cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
5. Quyết định đưa vụ án ra xét xử
Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên toà;
b) Việc xét xử được tiến hành công khai hay xét xử kín;
c) Tên, địa chỉ của những người tham gia tố tụng;
d) Nội dung việc khởi kiện;
đ) Họ, tên của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án, Kiểm sát viên; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có).
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho các đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định.
6. Gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu
Toà án phải gửi hồ sơ vụ án cùng với việc gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Toà án.
Tài liệu tham khảo
1) Luậttốtụnghànhchínhnăm2010.

This entry was posted in Luật tố tụng hành chính. Bookmark the permalink.