Mục lục:
1/ Quá trình hình thành nhà nước-pháp luật. Đặc điểm con đường hình thành nhà nước ở phương Đông. 3
2/ Tiền đề kinh tế – xã hội dẫn đến sự tan rã xã hội cộng sản nguyên thủy và sự hình thành nhà nước và pháp luật 5
3/ Quy luật chung và những nét đặc thù về sự ra đời nhà nước ở phương Đông và phương Tây thời cổ đại 6
4/ Đặc trưng cơ bản của nhà nước và pháp luật phương Đông cổ đại 6
5/ Điểm khác biệt cơ bản giữa nhà nước và pháp luật phương Đông và phương Tây cổ đại 7
6/ Trình bày cơ sở kinh tế – xã hội của sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước phương Đông cổ đại 8
7/ Nhà nước Trung Quốc cổ đại 8
8/ Pháp luật Lưỡng Hà cổ đại 11
9/ Nội dung và giá trị cơ bản của bộ luật Hammurabi: 12
10/ Trình bày nét tương đồng và khác biệt giữa bộ luật Hammurapi và Manu. 13
11/ Trình bày cơ sở kinh tế – xã hội cho sự ra đời của Nhà nước Phương Tây cổ đại. 14
12/ Nhà nước Hy Lạp – La Mã thời cổ đại 14
13/ Nhận xét tính dân chủ của nhà nước Aten: 20
14/ Trình bày những nét cơ bản về quá trình dân chủ hóa nhà nước Aten( qua 3 cuộc cải cách của XoLong, Cixten, Periclet) 21
15/ Nêu các bộ phận cấu thành cơ bản của nhà nước Cộng hòa dân chủ chủ nô Aten: 23
16/ So sánh và chỉ ra nét khác nhau cơ bản của Nhà nước Xpac và Nhà nước Aten (Hy Lạp cổ đại) 23
17/ Nhận xét quan điểm cho rằng:” Hệ thống pháp luật luật La Mã là hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhất của nhà nước chiếm hữu nô lệ”. 24
18/ Tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến Trung Quốc triều đại Tần, Đường, Minh. 25
19/ Trạng thái phân quyền cát cứ của nhà nước phong kiến Tây Âu 28
20/ Tính không thống nhất của pháp luật phong kiến Tây Âu. 29
21/ Trình bày những điều kiện kinh tế – xã hội của sự ra đời và tồn tại nền quân chủ phân quyền cát cứ ( từ thế kỉ IX đến thế kỉ XV) ở Tây Âu thời Phong kiến. 30
22/ Trạng thái phân quyền cát cứ ở Tây Âu thời phong kiến có ảnh hưởng như thế nào đến tổ chức bộ máy nhà nước 31
23/ Phân tích những điều kiện kinh tế – xã hội dẫn đến xác lập nền quân chủ chuyên chế ở Tây Âu thời kỳ phong kiến. 31
24/ Phân tích những điều kiện kinh tế – xã hội dẫn đến sự xuất hiện chế độ tự trị của các thành thị ở Tây Âu thời kỳ phong kiến. 32
25/ Phân tích những điều kiện kinh tế – xã hội dẫn đến sự xuất hiện của chế độ đại diện đẳng cấp ở Tây Âu thời kỳ phong kiến. 33
26/ Nhà nước tư sản Anh thời cận đại (thời kỳ CNTB tự do cạnh tranh) 34
27/ Nhà nước tư sản Mỹ thời cận đại 36
28/ Nội dung và ý nghĩa của hiến pháp tư sản Mỹ năm 1787 39
29/ Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước tư sản Mỹ sau cách mạng tư sản 39
30/ Lý giải nguyên nhân nhà nước Mỹ tổ chức theo hình thức chính thể cộng hòa Tổng thống. 40

1/ Quá trình hình thành nhà nước-pháp luật. Đặc điểm con đường hình thành nhà nước ở phương Đông.

1. Quá trình hình thành Nhà nước

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc nhà nước.
Theo thuyết Thần học, cho rằng nhà nươc là do thượng đế sinh ra để quản lý xã hội, quyền lực nhà nước là vĩnh cửu và vô tận nên việc phục tùng quyền lực ấy là cần thiết và tất yếu.
Theo thuyết khế ước xã hội, nhà nước là một sản phẩm của một bản hợp đồng(khế ước) giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước. Khi đó, nhà nước phải phục tùng xã hội, phục vụ mọi thành viên của xã hội. Khi nhà nước không thực hiện được chức năng của nó, các thành viên trong xã hội sẽ huỷ bỏ khế ước cũ lập ra một khế ước mới, một nhà nước tiến bộ hơn sẽ ra đời.
Ngoài ra còn có thuyết gia trưởng, thuyết tâm lý, thuyết bạo lực…
Theo học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhà nước ra đời trên cơ sở của sự tan rã chế độ công xã nguyên thuỷ. Có hai nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ, đó là sự xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất (nguyên nhân kinh tế) và sự mâu thuẫn giữa hai giai cấp đối kháng trong xã hôị, mâu thuẫn này ngày càng trở nên gay gắt đến mức không thể điều hoà được nữa (nguyên nhân xã hội).
Chế độ công xã nguyên thuỷ, thị tộc, bộ lạc, bào tộc là cách thức tổ chức đầu tiên của loài người trong buổi bình minh. Trong chế độ công xã nguyên thuỷ, mọi người đều bình đẳng như nhau trong lao động và hưởng thụ, trong quyền lợi và nghĩa vụ. Khi lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến năng suất lao động ngày càng tăng lên, đặc biệt khi có công cụ lao động bằng kim loại xuất hiện cùng với những kinh nghiệm đã tích luỹ được đã tạo nên bước phát triển nhảy vọt trong trồng trọt và nghề thủ công. Dẫn đến sự phân công lao động lần thứ nhất, trồng trọt tách khỏi chăn nuôi. Sau đó, các nghề thủ công cũng phát triển mạnh tạo ra sự phân công lao động lầ thứ hai : thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp. Sau hai lần phân công lao động, xã hội đã có sự phân tầng. Sự chuyên môn hoá của các ngành sản xuất đã làm cho nhu cầu trao đổi hàng hoá giữa các bộ phận dân cư ngày một tăng cao. Điều này dẫn đến sự phân công lao động lần thứ ba, giao lưu hàng hoá tăng nhanh và thương nghiệp xuất hiện. Sau lần phân công lao động thứ ba này, xã hội đã bị phân hoá một cách sâu sắc. Do sự phân công lao động nên các ngành kinh tế phát triển mạnh, làm cho sản phẩm lao động ngày càng nhiều lên dẫn đến dư thừa. Lúc này trong xã hội đã xuất hiện một số người có quyền lực công nhiên đi chiếm đoạt phần sản phẩm dư thừa đó và biến nó thành của riêng. Chế độ tư hữu về tài sản dần dần xuất hiện. Những người này dần dần trở thành những người chuyên đi bóc lột còn bộ phận đông dân cư trở thành những người bị bóc lột cả về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Chế độ tư hữu ngày càng được củng cố và phát triển tất yếu dẫn đến việc hình thành các tập đoàn người trong xã hội có địa vị kinh tế khác hẳnh nhau đó là tập đoàn những người giàu có (chủ nô), tập đoàn nông dân-thợ thủ công với chút ít tài sản (bình dân) và tập đoàn thứ ba là tù binh chiến tranh và nô lệ (nô lệ).
Mâu thuẫn giữa giai cấp bóc lột và bị bóc lột ngày càng trở nên gay gắt, làm cho chế độ công xã nguyên thuỷ trước đây với thị tộc, bộ lạc không thể kiểm soát, quản lý xã hội được nữa, mà cần một tổ chuác mới ra đời, đó chính là nhà nước.Nhà nước ra đời, đó là sự thay đổi hẳn về lượng. Đó là một bộ máy bạo lức, gồm có quân đội, cảnh sát, nhà tù…để đàn áp những người lao động.
2. Quá trình hình thành pháp luật

Pháp luật ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước, đó là một điều tất yếu khách quan. Xét về phương diện chủ quan, pháp luật do nhà nước đề ra và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của mình, trở thành một công cụ có hiệu quả nhất để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, nó quản lý xã hội theo mục đích của nhà nước cũng tức là mục đích của giai cấp thống trị.
Trước khi pháp luật xuất hiện, tổ chức thị tộc, bộ lạc quản lý xã hội bằng những phong tục tập quán với bản chất của nó là nguyên tắc bình đẳng giữa các thành viên trong xã hội. Khi nhà nước xuất hiện cùng với việc các quan hệ trong xã hội phát triển vượt bậc cả về bề rộng và chiều sâu, các phong tục tập quán này không còn có thể điều chỉnh được nữa mà cần một loại quy phạm xã hội mới đó chính là pháp luật.
Pháp luật được hình thành bằng nhiều cách với những hình thức khác nhau.
• Con đường thứ nhất là “luật pháp hoá”, “nhà nước hoá”. Nhà nước thừa nhận và nâng lên những tập quán có lợi cho mình. Đó là “ tập quán pháp”. Có tập quán được nhà nước chính thức thừa nhận và đưa vào nội dung bột luật, nhưng cũng cõ những tập quán được nhà nước mặc niên thừa nhận. Như vậy có tập quán pháp thành văn và tập quán pháp không thành văn. Điển hình là ở các nước phương Đông như ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam…
• Con đường thứ hai là do nhà nước ban hành mới. Do nhu cầu điều chỉnh những quan hệ ngày càng phức tạp, phong phú, sâu và rộng mà tập quán pháp không thể điều chỉnh được hết. Pháp luật được tồn tại dưới dạng thành văn và bất thành văn. Pháp luật thành văn ra đời ngay từ khi xuất hiện chữ viết.VD như luật 12 bảng của La Mã cổ đại, bột luật Hammurabi của Lưỡng Hà cổ đại….

3. Đặc điểm con đường hình thành nhà nước ở phương Đông

ở phương Đông, các nhà nước thường được hình thành ở lưu vực những con sông lớn. Điều kiện tự nhiên đã chứa đựng trong đó cả ưu đãi và thử thách. Bất cứ một cộng đồng nào ở đây cũng phải tiến hành công cuộc trị thuỷ và thuỷ lợi. Mặc dù ở phương Đông chế độ tư hưu về ruộng đất gần như không có, xã hội bị phân hoá chậm chạp đồng thời tính giai cấp rất hạn chế và mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng phát triển chưa tới mức độ gay gắt, quyết liệt như ở phương Tây nhưng trong môi trường kinh tế xã hội mới như vậy nhà nước đã phải ra đời. Chính công cuộc trị thuỷ, thuỷ lợi không chỉ là yếu tố duy trì chế độ tư hữu về ruộng đất mà còn là yếu tố thúc đẩy nhà nước phải ra đời sớm. Trước đó tổ chức của công xã thị tộc, với quy mô tổ chức và hiệu lực của nó, không còn đủ khả năng tổ chức công cộng chống lũ và tưới tiêu. Đồng thời nhu cầu tự vệ cũng là một yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình hình thành nhà nước. Nhà nước ra đời sớm, cả về thời gian và không gian, do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đặc biệt của phương Đông.
Trong tất cả phạm vi các cộng đồng, tầng lớp quý tộc lúc ban đầu vốn thực hiện “chức năng xã hội” đảm bảo lợi ích chung của cả cộng đồng, rồi chuyển sang “địa vị độc lập đối với xã hội” và cuối cùng “vươn lên thành sự thống trị đối với xã hội”.
2/ Tiền đề kinh tế – xã hội dẫn đến sự tan rã xã hội cộng sản nguyên thủy và sự hình thành nhà nước và pháp luật

Có nhiều quan điểm về sự hình thành nhà nước
Theo thuyết thần học, nhà nước là do thượng đế sinh ra để quản lý xã hội
Theo thuyết khế ước xã hội, nhà nước là sản phẩm của 1 bản hợp đồng của những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước. Khi nn k thực hiện tốt chức năng của nó thì các thành viên ấy phá bỏ khế ước cũ và lập khế ước mới, nn mới ra đời.
Còn theo quan điểm của cn Mác-Leenin, nhà nước ra đời trên sự tan rã của xã hội cộng sản nguyên thủy:
Tiền đề kinh tế:
Khi lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến năng suất lao động ngày càng tăng lên
Qua 3 lần phân công lao động – Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt
-Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp
-Thương nghiệp phát triển
Của cải dư thừa => các tiểu gia đình tách khỏi đại gia đình, muốn cuộc sống tốt hơn cho 1 số ít người, không phải làm vì cả cộng đồng nữa => xuất hiện tư hữu về tư liệu sản xuất do một số người có quyền lực chiếm đoạt để tách ra thành gia đình riêng => trở thành những người chuyên đi bóc lột
Tiền đề xã hội:
Những người tư hữu về tư liệu sản xuất đó trở thành những người chuyên đi bóc lột. Từ đó hình thành nên các tầng lớp và giai cấp có địa vị kinh tế khác hẳn nhau :
Chủ nô (chiếm nhiều của cải + tư hữu tư liệu sản xuất)
Bình dân (chỉ có 1 ít của cải)
Nô lệ( tù binh chiến tranh và những nông dân phá sản)
Mâu thuẫn giữa giai cấp bóc lột và bị bóc lột ngày càng tăng, đến mức đỉnh điểm không thể tự điều hòa được => Giai cấp mạnh hơn sẽ đứng lên cầm quyền, trấn áp các giai cấp khác và quản lý theo ý chí của họ. Họ thành lập 1 tổ chức là nhà nước để điều hòa mâu thuẫn ấy.
Pháp luật hình thành khi nhà nước ra đời, là công cụ của nhà nước bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Trước khi hình thành nhà nước thì phong tục tập quán với bản chất là bình đẳng với các thành viên, nhưng khi xuất hiện giai cấp, xuất hiện nhà nước thì các phong tục này k điều chỉnh đc sự bình đẳng nữa, k phù hợp nữa => PL ra đời.
2 hình thức hình thành PL Thừa nhận, nâng lên những tập quán có lợi cho mình
Ban hành những quy tắc mới.

3/ Quy luật chung và những nét đặc thù về sự ra đời nhà nước ở phương Đông và phương Tây thời cổ đại
Quy luật chung: Ra đời trên sự tan rã của xã hội cộng sản nguyên thủy
Ở phương Tây: do 2 nguyên nhân chính là -Tư hữu tư liệu sx(tiền đề kinh tế)
-Phân chia giai cấp(tiền đề xã hội)
=> mâu thuẫn k điều hòa đc => hình thành nn. PL là công cụ của nn để bảo vệ lợi ích cho mình và quản lý xh.
Ở phương Đông: do công cuộc trị thủy- làm thủy lợi và việc chống ngoại xâm, mở rộng lãnh thổ => thúc đẩy quá trình hình thành nn. (cần người tổ chức,ng đứng đầu: Vua)
PL là do vua ban, cùng với 1 số “tập quán pháp” đã có từ trước

4/ Đặc trưng cơ bản của nhà nước và pháp luật phương Đông cổ đại
Nêu sơ qua về quá trình hình thành nhà nước phương Đông.
Nhà nước phương Đông cổ đại có 4 trung tâm văn minh là Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc.
+) Tổ chức bộ máy nhà nước
Chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền
Cơ cấu tổ chức đơn giản và sơ khai.
Ở trung ương có: vua , quan đầu triều và quan lại giúp việc
Vua là ng nắm toàn bộ đất đai, chủ sở hữu tối cao, là người tổ chức bộ máy nhà nước, bổ nhiệm quan lại, gây chiến tranh hay hòa bình do vua quyết định.
Quan đầu triều:là 1 vị quan hay hội đồng thân tín của nhà vua, nắm giữ các công việc quan trọng.
Quan giúp việc: hệ thống các quan lại cao cấp. Tùy từng nơi, từng thời kì mà có sự phân công nhiệm vụ, quyền hạn.
Về quân đội: Do thường xuyên xảy ra chiến tranh nên phát triển quân đội rất mạnh. Chỉ huy tối cao là nhà vua. Lực lượng quân đội đông và đa dạng.
Ở địa phương tổ chức bộ máy là thu nhỏ của trung ương, sao chép đơn giản.
 Kết luận: Bộ máy nhà nước là bộ máy bạo lực lớn, được thần thánh hóa nhằm bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị một cách triệt để.
+)Pháp luật phương Đông
Vì nhà nước và PL có mối quan hệ chặt chẽ nên khi nhà nước ra đời thì giai cấp cầm quyền cũng đồng thời ban hành PL.
2 bộ luật lớn ở phương Đông thời cổ đại là bộ luật Hamurapi(Lưỡng Hà) và bộ luật Manu(Ấn Độ). Đặc điểm cơ bản của pháp luật Phương Đông cổ đại là:
– Công khai thừa nhận sự bất bình đẳng trong xã hội. Bảo vệ quyền lợi và địa vị của giai cấp thống trị.
– Thừa nhận sự bất bình đẳng trong quan hệ gia đình giữa vợ và chồng, giữa các con với nhau do ảnh hưởng của chế độ gia trưởng.
– Ranh giới giữa hình sự và dân sự mờ nhạt, các hình phạt hà khắc và nặng nề về cả mặt tâm lý và thân thể.
– Bị ảnh hưởng bởi tôn giáo, lễ giáo và tư tưởng thống trị.
– Về hình thức, từ ngữ cụ thể, có tính hệ thống.
5/ Điểm khác biệt cơ bản giữa nhà nước và pháp luật phương Đông và phương Tây cổ đại
a/Nhà nước:

Phương Đông Phương Tây
-Các nhà nước ra đời sớm ở lưu vực các con sông lớn. -Nhà nước ra đời muộn,hình thành trên các bán đảo.
-Thuận lợi pt nông nghiệp. – K thuận lợi pt nông nghiệp mà thuận lợi pt thủ công nghiệp, thương nghiệp.
-Kinh tế hàng hóa chậm pt nên ko có trung tâm kinh tế lớn. -Pt thương nghiệp nên xh thành thị, trung tâm lớn.
-Ruộng đất thuộc quyền sở hữu nhà nước. -Ruộng đất chủ yếu thuộc về tư nhân
-Hình thức quân chủ chuyên chế tập quyền -Hình thức đa dạng.Dân chủ chủ nô, cộng hòa quý tộc, quân chủ chuyên chế
-HÌnh thức cấu trúc là các nước đơn nhất. -Hình thức cấu trúc: Có xuất hiện nhà nước thành bang
-Kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ ko điển hình, mang nặng tính gia trưởng -Kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ điển hình.
-Cả thần quyền và thực quyền tập trung vào tay vua -Vua nắm 1 phần quyền lực, các hội đồng hay tổ chức khác nắm 1 phần quyền lực.

b/ Pháp luật:
Pháp luật dân sự ở Phương Đông kém phát triển hơn Phương Tây. Ở Phương Đông, lĩnh vực pháp luật hình sự với các qui định về tội phạm và hình phạt được qui định nhiều hơn hơn pháp luật dân sự.
6/ Trình bày cơ sở kinh tế – xã hội của sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước phương Đông cổ đại
Nhà nước phương Đông cổ đại ra đời trên sự thúc đẩy của việc trị thủy-làm thủy lợi và nhu cầu tự vệ. Cơ sở kinh tế vẫn là việc tư hữu về tư liệu sản xuất, cơ sở xã hội là sự phân chia giai cấp, nhưng mâu thuẫn giữa những giai cấp không thật sự sâu sắc. Tuy vậy, yếu tố chính làm xuất hiện nhà nước là sự phân hóa giai cấp, còn yếu tố quản lý và vai trò của người thủ lĩnh trong công cuộc trị thủy và chiến tranh là yếu tố thúc đẩy sự ra đời của nhà nước sớm hơn.
Nhà nước phương Đông cổ đại tồn tại và phát triển trên nền tảng lấy kinh tế nông nghiệp làm chủ đạo. Do hình thành ở lưu vực các con sông lớn nên nông nghiệp phát triển mạnh.
7/ Nhà nước Trung Quốc cổ đại

1. Quá trình hình thành nhà nước
Trung Quốc là một trong những nền văn minh lớn của phương Đông cổ đại, cũng như Ai Cạp, Lưỡng Hà, ấn Độ, ở đây cũng có hai con sông lớn chảy qua đó là sông Hoàng Hà ở phía Bắc và sông Trường Giang ở phía Nam. Lịch sử của Trung Quốc cổ đại kéo dài gần 2000 năm. từ khoảng TK 21 TCN đến năm 221 TCN. Trong thời gian đó, lãnh thổ của Trung Quốc từ lưu vực sông Hoàng Hà không ngừng được mở rộng nhưng nhìn chung, nếu so với ngày nay thì còn rất hạn chế.
Vào khoảng TK 3 TCN, cư dân lưu vực sông Hoàng mới chuyển sang chế độ công xã thị tộc phụ hệ. Theo truyền thuyết, ở đây có nhiều bộ lạc nổi tiếng như Hoàng Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ…Qua quá trình đấu tranh và liên hiệp giữa các bộ lạc, cuối cùng hình thành một liên minh bộ lạc lớn mạnh do Đường Ngiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ lần lượt được bầu làm thủ lĩnh.
Trong thời kỳ này, kinh tế phát triển rõ rệt, nghề nông đã phát triển hơn trước nhiều do các công trình thuỷ lợi được xây dựng lại thêm đất đai màu mỡ. Do vậy, trong xã hội đã xuất hiện sự phân hoá tài sản và sự phân hoá xã hội diễn ra mạnh hơn. Tầng lớp quý tộc thị tộc ngày càng chiếm nhiều ruộng đất của công xã.Dần dần tầng lớp quý tộc thị tộc hình thành một giai cấp-quý tộc chủ nô. Đến thời Hạ, số lượng nô lệ ngày càng nhiều lên với nguồn chính là tù binh chiến tranh. Nông dân công xã vẫn là lực lượng xã hội đông đảo thời bấy giờ.
Khi Hạ Vũ chết, các quý tộc thân cận nhà Hạ trong liên minh bộ lạc đã ủng hộ con của Vũ là Khải lên thay. Việc bầu thủ lĩnh đến đây là chấm dứt, việc cha truyền con nối được coi là đương nhiên. Khi trở thành vua, Khải trở thành ông vua có quyền hành rất lớn. Sự kiện này đánh dấu sự hình thành nhà nước ở Trung Quốc.

2. Sơ lược lịch sử các triều đại

 

 

• Nhà Hạ (TK 21-16 TCN)
Nối chức thủ lĩnh của cha, Khải trở thành ông vua đầu tiên của Trung Quốc, phải đương đầu với nhiều cuọc chống chọi. Trải qua mấy thế kỷ, Kiệt nổi lên là một bạo chúa, áp bức bóc lột dân chúng thậm tệ, mâu thuẫn xã hội đã tới mức gay gắt. Nhân đó, nhà Thương được thành lập, tấn công nhà Hạ, nhà Hạ diệt vong.
• Nhà Thương (TK 16-TK12 TCN)
Sau khi nhà Hạ sụp đổ, nhà Thương chính thức được thành lập, đóng đô ở phía Nam sông Hoàng Hà. Đến TK 14 thì dời đô sang đất Ân ở phía Bắc sông Hoàng. Cũng từ đó, nhà Thương phồn thịnh trong một thời gian dài, về mọi mặt đều phát triển hơn so với thời nhà Hạ, công cụ và đồ dùng bằng đồng thau tương đối phổ biến. Việc trao đổi, mua bán cũng khá phát triển. Quan hệ nô lệ đã phát triển, nhưng công việc chủ yếu vẫn chỉ là làm việc trong gia đình chủ mà thôi.
Trụ là ông vua cuối cùng của nhà Thương nổi tiếng tàn bạo trong lịch sử Trung Quốc, dùng nhiều hình phạt để đàn áp nhân dân, gây chiến tranh với các bộ lạc xung quanh…Nhân đó nhà Chu ở phía Tây (vốn là nước chư hầu của nhà Thương) đã đem quân tấn công, nhà Thương diệt vong.

• Triều đại Tây Chu ( TK 12-771 TCN)
Sau khi đem quân tiêu diệt nhà Thương, nhà Chu đóng đô ở Cảo Kinh (phía Tây Tây An) nên gọi là Tây Chu.
Chính sách nổi bật trong triều đại này là chế độ phong hầu. Tất cả đất đai đều thuộc sở hữu của vua Chu. Vua cắt đất, phân cho con cháu, thân thuộc, khi phong đất kèm theo phong tước. Đến các chư hầu cũng phong cấp cho bề tôi của mình. Chế độ phân phong đã tạo nên một hệ thống chính trị dựa trên đẳng cấp quý tộc huyết thống, sử dụng hệ thống các nước chư hầu để cai trị trong nước và bành trướng ra bên ngoài.
• Triều đại Đông Chu (771-221 TCN)-thời kỳ Xuân Thu-Chiến Quốc
Năm 770 TCN, nhà Chu dời đô về Lạc Dương, phía Đông Trung Quốc nên gọi là Đông Chu. Thời Đông Chu được chia thành hai thời kỳ là Xuân Thu (770-475 TCN) và Chiến Quốc ( 475-221 TCN). Thời kỳ này, nhà Chu ngày càng suy yếu còn các nước chư hầu ngày càng lớn mạnh và diễn ra các cuộc đấu tranh giành quyền bá chủ. Cuối TK 6 TCN, có 5 nước lớn là Tề, Tấn, Sở, Ngô, Việt (“Ngũ bá”). Sang thời Chiến Quốc có 7 nước tranh bá là Tề, Sở, Yên, Hàn, Triều, Ngụy, Tần (“Thất hùng”). Đây là thời kỳ chiến tranh liên miên, quy mô rộng lớn và vô cùng ác liệt.
Một hiện tượng nổi bật là cải cách về mọi mặt, trong đó, nhà Tần năm 359 TCN là cuộc cải cách nổi tiếng nhất và mang lại hiệu quả nhất. Qua các cuộc cải cách ở nước Tần và các nước khác, cơ sở kinh tế và đặc quyền của tầng lớp quý tộc bị phá vỡ, tầng lớp địa chủ mới ngày càng chiếm ưu thế. Đồng thời, qua cuộc cải cách, nước Tần mạnh hẳn lên, đánh bại được 6 nước thống nhất Trung Quốc vào năm 221 TCN. Từ đây, Trung Quốc bước sang thời kỳ phong kiến.
3. Tổ chức bộ máy nhà nước
Bộ máy nhà nươc Trung Quốc được xác lập và hoàn thiện từng bước. Thời Hạ-Thương : bộ máy nhà nước còn đơn giản, mang đậm tàn dư của thị tộc. Thời Tây Chu, bộ máy nhà nước được hoàn thiện về quy mô và cơ cấu tổ chức, tàn dư công xã thị tộc phai nhạt dần. Sang thời Xuân Thu-Chiến Quốc, tổ chức bộ máy nhà nước của các nước đã kế thừa và phát triển tổ chức của nhà Tây Chu..
Tổ chức bộ máy nhà nước :
– Đứng đầu nhà nước là Vua (còn gọi là Đế, Vương, Thiên Tử) : có quyền hành rất lớn về mọi mặt, có quyền lực vô tận, quyết định các công việc trọng đại của đất nước. Ý chí và lời nói của Vua đều gọi là pháp luật, Vua còn tự thần thánh hoá bản thân.
– Bộ máy quan lại ở TƯ :
• Hạ-Thương : mới chỉ có một số chức vụ quản lý các công việc như quản lý chăn nuôi, quản lý xe,..dưới Vua có chức quan Vu có quyền hành lớn nhất, giúp vua quản lý công việc triều đình,
• Tây Chu : bộ máy quan lại triều đình đi vào quy củ. vua thiết lập Tam Công gồm ba chức quan lớn theo thứ tự cao thấp : Thái sư, Thái phó, Thái bảo. Về sau, bỏ Tam công và lập ra 6 chức quan cao cấp (lục khanh) là Thái Tể, Tư Đồ, Tòng Bá, Tư Mã, Tư Khấu, Tư Không. Song song có thái sử liêu gồm: Tả sử, Hữu sử
• Chiến Quốc : xuất hiện chức quan cao cấp nhất trong bộ máy quan lại, tuỳ nước có các tên gọi khác nhau như Lệnh doãn, Tướng quốc, Thừa tướng..Sau này nhà Tần gọi Thừa tướng là Tể tướng.
– Bộ máy quan lại địa phương:
• Cấp hành chính : thời Hạ-Thương, viên quan đứng đầu thường là tù trưởng bộ lạc trứoc đó hay con cháu của của họ. Thời Tây Chu, do chính sách phân phong nên thêm một cấp địa phương là các nước chư hầu. Thời Xuân Thu-Chiến Quốc, do chiến tranh liên miên nên các nước chư hầu trở thành quốc gia độc lập với nhà Chu vì thế bộ máy chính quyền địa phương chủ hầu trở thành bộ máy chính quyền TƯ của một nước.
• Cấp cơ sở : Thời Hạ-Thương, đơn vị hành chính cấp cơ sở là công xã nông thôn do tộc trưởng đứng đầu, do công xã bầu ra. Thời Tây Chu, thôn trưởng vẫn do công xã bầu ra nhưng phải được chính quyền cấp trên phê duyệt. Thời Xuân Thu-Chiến Quốc : có những thay đổi quan trọng tuỳ từng nước.
• Quân đội : rất chú trọng xây dựng. Ngoài quân đội của TƯ, địa phương, các nước chư hầu cũng có lực lượng vũ trang riêng.
Tuy TQ cổ đại bị chia thành nhiều nước nhưng các nhà nước đó đều là nhà nước quân chủ chuyên chế dựa trên cơ sở kinh tế, chính trị-xã hội:
• Kinh tế : hầu hết ruộng đất đều thuộc sở hữu của nhà vua, công xã nông thôn tồn tại bền vững và được quyền sở hữu thực tế ruộng đất của vua.
• Chính trị-xã hội : hệ thống quan lại được hình thành, củng cố theo chế độ tông pháp và chế độ cha truyền con nối. Hầu hết các chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước đều do họ hàng nhà Vua nắm giữ, phẩm tước cao hay thấp phụ thuộc quan hệ gần hay xa. Do đó, đây là chế độ quan chue chuyên chế quý tộc (chủ nô).
8/ Pháp luật Lưỡng Hà cổ đại

Nền kinh tế hàng hoá ở Lưỡng Hà xuất hiện sớm và phát triển bậc nhất ở phương Đông cổ đại nên pháp luật Lưỡng Hà cũng phát triển nổi trội hơn so với các nước khác. Trong đó bộ luật Hammurabi là bộ luật có giá trị lớn nhất. Bộ luật gồm có ba phần : phẩn mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Phần mở đầu đã tuyên bố các vị thần đã trao đất nước cho nhà vua thống trị. Phần kết luận khẳng định lại công đức và uy quyền của nhà vua Hammurabi. Phần nội dung là phần chủ yếu của bộ luật, kế thừa những bộ luật trước đó, những phong tục tập quán của ng­êi Xume vµ c¶ nh÷ng quy ®Þnh cña nhµ vua vµ toµ ¸n nhµ vua. Bộ luật gồm 282 điều khoản cụ thể điều chỉnh hầu hết những quan hệ xã hội lúc bấy giờ, từ các chế định về hợp đồng, hôn nhân và gia đình, thừa kế đến các chế định về hình sự, tố tụng.
• Chế định hợp đồng: 3 nội dung cơ bản : hợp đồng mua bán, hợp đồng vay mượn, hợp đồng cho thuê ruộng đất.
– Hợp đồng mua bán : phải có 3 điều kiện : tài sản mua bán phải đảm bảo đúng giá trị sử dụng, người bán phải là người chủ sở hữu thực sự của tài sản, khi tiến hành hợp đồng phải có người thứ ba làm chứng. Chế tài hợp đồng : tất cả các điều khoản trong hợp đồng đều áp dụng luật hình sự. Điều 7 quy định : nếu vật bán thuộc sở hữu của người khác thì sẽ bị xử tử hình.
– Hợp đồng vay mượn : 89-101 quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và người vay. 115-119 : biện pháp đảm bảo cho hợp đồng vay mượn nhằm đảm bảo quyền lợi cho chủ nợ.
– Hợp đồng cho thuê ruộng đất : có 2 hình thức sở hữu là ruộng đát nhà nước vả ruộng đất tư nhân. Được quy định từ điều 42-48 nêu lên quyền và nghĩa vụ của các chủ tư nhân, từ điều 48-50 là các điều khoản quy định chế tài hợp đồng.
• Chế định hôn nhân và gia đình : pháp luật luôn củng cố và bảo vệ chế độ hôn nhân bất bình đẳng, bảo vệ địa vị của người đàn ông trong gia đình. Người chồng có quyền ly hôn, quyền của người phụ nữ không được pháp luật bảo vệ.Hôn nhân hợp pháp phải có giấy tờ.
Điều 128 ghi rõ : nếu người vợ bị mắc bệnh hiểm nghèo thì người chồng có quyền lấy người phụ nữ khác nhưng phải chăm sóc chị ta suốt đời.
Điều 218 quy định : nếu dân tự do lấy vợ mà không có giấy tờ thì người vợ đó không phải là vợ của y.
• Chế định thừa kế : 167-170. Quyền để lại tài sản thừa kế bị pháp luật hạn chế ở một số trường hợp nhất định. Điều 169 quy định : tất cả các con đều được chia tài sản thừa kế như nhau.
• Chế định hình sự : Hình phạt mang tính chất hà khắc, dã man đặc biệt áp dụng quy tắc trả thù ngang bằng. Hầu hết các hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử bằng hình phạt để đảm bảo đặc quyền của gia cấp thống trị, và những hành vi xâm hại đến tài sản của giai cấp thống trị đều bị xử tử hình. Hình thức chuộc lỗi bằng tiền được áp dụng khá phổ biến nhưng mức phạt tiền lại phụ thuộc vào địa vị của người bị hại. Hình thức xử tử có khoảng 30 hình thức khác nhau nhưng đều rất dã man. Điều 196 quy định : nếu dân tự do làm hỏng con mắt của bất kỳ người nào thì phải làm hỏng con mắt của y
• Chế định tố tụng : nội dung chủ yếu là bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị chủ nô. Đó là quy định những kẻ tàng trữ nô lệ hay giúp đỡ nô lệ chạy trốn đều bị xử tử. Hay những quy định khắt khe của những kẻ cho vay nặng lãi đối với con nợ. Bộ luật còn cho pháp chủ nợ có quyền tịch thu tài sản của con nợ thậm chí bắt các thành viên trong gia đình con nợ làm nô lệ.
Bộ luật Hammurabi là bộ luật có giá trị vào bậc nhất ở phương Đông và thế giới cổ đại, là tấm gương phản chiếu rõ nét bản chất giai cấp của nhà nước.
9/ Nội dung và giá trị cơ bản của bộ luật Hammurabi:

* Nội dung bộ luật: Bộ luật Hammurabi là bộ luật tương đối hoàn chỉnh thời lỳ cổ đại, gồm 282 điều (hiện chỉ đọc được 247 điều) bao gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luật. Đây là một bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới dạng luật hình, bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực và đều có chế tài, chủ yếu là điều chỉnh quan hệ xã hội liên quan tới lợi ích của giai cấp thống trị.
– Phần mở đầu Vua Hammurabi tuyên bố rằng các vị thần đã trao đất nước cho nhà vua thống trị để làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ.
– Phần nội dung là phần chủ yếu của bộ luật. Nội dung của bội luật bắt nguồn từ sự kế thừa từ những bộ luật trước đó, cụ thể là những pháp điển của người Xume,ngoài ra chứa đựng những sắc lệnh của vua Hammurabi và nhiều quyết định của tòa án cao cấp bấy h.Trong đó, điều đầu tiên là bộ luật quy định thủ tục kiện cáo, cách xét xử tức tục tố tụng. Tiếp đó là những quy định về hình phạt của tội trộm cắp, bắt cóc nô lệ, về quyền và nghĩa vụ của binh lính, quyền lợi của người lính canh ruộng đất. Tội sử dụng bừa bãi nguồn nước, tội để súc vật tàn phá hoa mầu. Các hình thức cho vay lãi, nô lệ vì nợ cũng được quy định rất cụ thể. Sau đó bộ luật dành nhiều khoản về việc gả bán con gái, về gia đình, về các hình thức trị tội khi làm tổn hại tới thân thể người khác, hình phạt đối với tội thủ tiêu dấu trên mặt nô lệ, trách nhiệm và tiền công của những người làm thuê trong xây dựng, nông nghiệp, chăn nuôi, thủ công nghiệp. Và cuối cùng, những điều khoản quy đinh về mua bán nô lệ.
– Phần kết luận của bộ luật: khẳng định lại công đức và uy quyền của Hammurabi. Nhà vua trừng trị thẳng tay những kẻ nào hủy hoại bộ luật.

• Giá trị cơ bản:
– Vượt ra khỏi hạn chế lịch sử, giá trị xã hội của Bộ luật được thể hiện rõ ngay từ mục đích của Bộ luật, thể hiện ở phần mở đầu của Bộ luật: “Vì hạnh phúc của loài người thần Anu và thần Enlin đã ra lệnh cho trẫm-Hammurabi, một vị quốc vương quang vinh và ngoan đạo, vì chính nghĩa, diệt trừ những kẻ gian ác không tuân theo pháp luật, làm cho kẻ mạnh không hà hiếp người yếu, làm cho trẫm giống như thần Samat sai xuống dân đen, tỏa sáng khắp muôn dân.
– Về kỹ thuật lập pháp, tuy không phân chia thành các ngành luật nhưng bộ luật cũng đc chia thành nhóm các điều khoản có nội dung khác nhau. Phạm vi điều chỉnh là quan hệ xã hội như hôn nhân gia đình, ruộng đất, thừa kế tài sản, hợp đồng dân sự, hình sự, tố tụng..
– Về mặt hình thức pháp lý: đây là bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới dạng luật hình, bao gồm các quy phạm Pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực và đều có chế tài.
– Về mức độ điều chỉnh: Bộ luật về cơ bản áp dụng mức độ điều chỉnh cụ thể, chi tiết.
 Vượt khỏi hạn chế về tính giai cấp, có thể thấy chứa đựng trong nhiều quy phạm của Bộ luật dù ở dạng thức sơ khai nhất, cổ xưa nhất vẫn chứa đậm nét những giá trị tiến bộ, nhân văn, đặc biệt là về kỹ thuật lập pháp trong các qui định từ hôn nhân gia đình tới kế thừa, qui định hợp đồng. Bộ Luật vẫn chứa đựng nhiều giá trị đương đại đáng kế thừa và phát triển.

10/ Trình bày nét tương đồng và khác biệt giữa bộ luật Hammurapi và Manu.

Trả lời:
So sánh Bộ Luật Hammurabi và Bộ Luật Manu

– Bộ Luật Hammurapi là bộ luật thành văn sớm nhất được xây dựng trên cơ sở lấy từ những tiền lệ pháp của người Xume, những quy định của tòa án và cá phán quyết của tòa án ca lúc bây giờ, và mệnh lệnh chiếu chỉ của nhà vua bởi vậy mà Bộ Luật chú trọng tập trung điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội lúc bấy giờ. Tuy rằng Bộ Luật Manu cùng được xây dựng từ những luật lệ, những tập quán của giai cấp thống trị nhưng nó lại được các giáo sĩ Bà La Môn tập hợp dưới dạng trường ca, được trình bày dưới dạng câu trường ca, tuy có điều chỉnh quan hệ pháp luật nhưng nó còn bao gồm rất nhiều vấn đề như chính trị, tôn giáo, quan niệm về thế giới và vũ trụ, bởi vậy Bộ Luật bao gồm 2685 điều trong khi đó Hammurapi chỉ có 282 điều. Tuy nhiên, bộ Luật Hammurapi lại điều chỉnh các quan hệ xã hội tiến bộ hơn rất nhiều so với Manu.
– Nội dung:
o Chế độ hợp đồng: hai bộ luật điều có phần điều kiện có hiệu lực hợp đồng, Bộ Luật Manu chủ yếu đề cập tới vấn đề hợp đồng vay mượn, BL Hammurapi còn nói đến vấn đề hợp đồng lĩnh canh ruộng đất, hợp đồng gửi giữ, cả hai bộ Luật đều dung chính bản thân con người làm vật bảo đảm, tuy nhiên BL Hammurapi có những quy định cũng như chế tài rõ ràng hơn so với Manu, BL Manu có tính phân biệt rõ ràng đối với đẳng cấp cao đó là Bà La Môn.
o Chế định hôn nhân: BL Manu có sự bất bình đẳng rõ rệt giữa vợ và chồng, hôn nhân mang tính chất mua bán, người vợ được người chồng mua về, trong khi đó bên BL Hammurapi có thủ tục kết hôn, tuy cũng có sự bất bình đẳng nhưng BL vẫn có điều khoản bảo vệ người phụ nữ.
o Chế độ thừa kế: về cơ bản 2 BL đều có 2 hình thức thừa kế là: theo luật pháp và theo di chúc, đều thừa kế theo tài sản người cha. Bên BL Hammurapi có them phần Điều kiện tước quyền thừa kế.
o Chế độ hình sự: BL Manu có sự phân biệt đẳng cấp rõ ràng: khoan dung cho người đẳng cấp trên và trừng trị thẳng tay đối với kẻ đẳng cấp dưới có hành vi xâm phạm tới đẳng cấp trên, bên BL Hammurapi có quan niệm hình sự là trừng trị tội lỗi, mang tính chất trả thù ngang nhau tuy nhiên chỉ là tương đối. Các hình thức xử phạt của hai bộ Luật đều rất dã man.
o Chế độ tố tụng: Bộ Luật Manu thì coi trọng chứng cứ nhưng chứng cứ lại phụ thuộc vào giới tính và đẳng cấp, chứng cứ của đẳng caapscao có tính quyết định. BL Hammurapi cũng coi trọng chứng cứ nhưng ko phân biệt đăng cấp và điều quan trọng là được xét xử công khai rất tiến bộ.
Bộ luật Manu mang tính phân biệt đẳng cấp rất rõ rệt, mọi điều khoản đều ủng hộ đẳng cấp trên. Bộ Luật Hammurapi tuy cũng có sự phân biệt nhưng cùng với đó cũng có tính dân chủ nhất định, cũng có sự bảo vệ với người dân.`

11/ Trình bày cơ sở kinh tế – xã hội cho sự ra đời của Nhà nước Phương Tây cổ đại.
Trả lời:
– Kinh tế phát triển mạnh, do các quốc gia cổ đại phương tây chủ yếu là ven biển,đất đai lại không phù hợp với nông nghiệp do vậy xu hướng buôn bán thương nghiệp rất phát triển, cùng với đó là thủ công nghiệp cũng phát triển rực rỡ làm cho chế độ tư hữu diễn ra nhanh chóng, tư hữu về ruộng đất làm cho phân hóa xã hội diễn ra mạnh mẽ:
+ Những gia đình có thế lực trong xã hội thi tộc trước kia như tù trưởng, thủ lĩnh quân sự chiếm nhiều ruộng đất và tư hữu tư liệu sản xuất, ngày càng trở lên giàu có trở thành giai cấp quý tộc thị tộc (hay còn gọi là quý tộc chủ nô ruộng đất)
+ Thương nhân, thợ thủ công, bình dân trong qua trình tìm vùng đất thực dân… ngày càng trở lên giàu có. Khi chế độ tư hữu ruộng đất xuất hiện, họ tậu được nhiều ruộng đất, nô lệ.. trở thành tầng lớp quý tộc chủ nô công thương nghiệp hay còn gọi là quý tộc mới.
+ Cùng với sự giàu có của quý tộc chủ nô là sự bần cùng hóa của nông dân, họ giải quyết sự bần cùng hóa của mình bằng 3 cách sau: Lĩnh canh ruộng đất của chủ nô để cày cấy hoặc đi làm thuê và trở thành tầng lớp bình dân; Một số quá nghèo bán mình làm nô lệ; Một số rời bỏ quê hương tìm vùng đất mới, dần dần họ biến nơi đó thành thuộc địa, những người đó càng trở lên giàu có và gia nhập vào tầng lớp quý tộc chủ nô công thương nghiệp.

– Do sự phân hóa giai cấp diễn ra mạnh mẽ nên mâu thuẫn giai cấp trở lên gay gắt. Trong đó, giai cấp chủ nô bóc lột sức lao động của nô lệ là chủ yếu. Quan hệ nô lệ mang tính chất điển hình. Giai cấp nô lệ phản kháng lại sự áp bức bóc lột bằng nhiều cuộc nổi dậy, để dập tắt những cuộc đấu tranh đó, giai cấp chủ nô thiết lập ra nhà nước để quản lý và đàn áp giai cấp bị trị.

12/ Nhà nước Hy Lạp – La Mã thời cổ đại

1. Địa lý – kinh tế-xã hội
1.1 Địa lý – kinh tế : nền kinh tế sớm có nhiều thành phần
– Nằm trên bán đảo Ban-can ở phía Nam châu Âu, thuận lợi cho việc thương mại, buôn bán, họ có thể vượt qua Địa Trung Hải tới Cận Đông là Bắc Phi, phía Bắc là Bắc Âu, phía Tây là Tây Âu và Đại Tây Dương, có nhiều thuận lợi cho giao lưu hàng hoá, thương nghiệp, nhiều hải cảng tốt
– Sản phẩm : lúa mì, lúa đại mạch, nho(nấu rượu), ôliu (lấy dầu); nghề thủ công, chế tạo vũ khí, công cụ sản xuất cũng rất phát triển
– Công thương nghiệp : chưa có máy móc nhưng nền kinh tế vận hành theo cơ chế hàng hoá thị trường, có chủ nô có trong tay hàng ngàn nô lệ, nền kinh tế thị trường La Mã rất phát triển (tương đối giống CNTB thời kỳ cận đại)  khác hoàn toàn châu á
1.2 Xã hội
– TK 8 TCN, Hy Lạp bước vào thời kỳ XH có giai cấp tan rã một cách triệt để, tư hữu phát riển mạnh, nó quyết định cách thức phát triển của xã hội
– XH có 3 giai cấp : chủ nô, nông dân-thị dân, nô lệ

2. Lịch sử Hy Lạp – La Mã
2.1 Lịch sử cổ đại Hy Lạp
Vào TK 8 TCN, nhiều thành bang, có 2 hình thúc nhà nước tồn tại là nhà nước cộng hoà quý tộc chủ nô Spac và cộng hoà dân chủ chủ nô Aten.
Kinh tế, văn hoá, xã hội phát triển rất rực rỡ nhất là vào khoảng TK 5 TCN.
Đến TK 2 TCN : Hy Lạp bị sụp đổ dưới sự xâm lược của đế quốc La Mã.
2.2 Lịch sử cổ đại La Mã
TK 6 TCN, trên bán đảo Italia, hình thành nhiều QG của nhiều tộc người khác nhau.
Người Latin (bao gồm La Mã) đã dựng nước ở miền trung nước Italia, TK 6 TCN, người Latin xây dựng thành Rome ở bên bờ sông Typơrơ.
Sự phát triển của đế quốc La Mã gắn liền với những cuộc chiến tranh xâm lược, mở rộng lãnh thổ, xây dựng một đế quốc La Mã rộng lớn nhất thời kỳ cổ đại. Đế quốc La Mã chinh phục toàn bộ bán đảo Italia, Nam Âu, xâm lược toàn bộ Bắc Âu, Tây Âu (tức là toàn bộ nước Anh bây giờ), qua Địa Trung Hải xâm lược toàn bộ Lưỡng Hà, toàn bộ Bắc Phi, TK 2 TCN là thời kỳ hưng thịnh của đế quốc La Mã, biên giới phía Nam kéo dài xuống tận sa mạc Sahara.
TK 5 SCN, đế quốc La Mã sụp đổ, chế độ nô lệ La Mã kết thúc cũng tức là kết thúc thời kỳ cổ đại.
3. Nhà nước cộng hoà quý tộc chủ nô Spác
3.1 Sự ra đời của nhà nước
Quá trình ra đời NN Spac đồng hành cùng quá trình xâm lược và thiết lập ách thông trị của người Đô-riêng ở Spac.
Vào TK 12-11 TCN, người Đô-riêng tràn vào xâm lược vùng đất của ngươid Akêăng. Cả hai tộc người này đều đang ở trạng thái công xã nguyên thuỷ đang tan rã, Vào TK 9 TCN, người Đô-riêng xây dựng thành Spac. Trong quá trình xâm chiếm, ở thành Spac dần dần hình thành mầm mống của XH có giai cấp và NN. Đến TK 8-7 TCN, người Đô-riêng tiếp tục xâm lược vùng đất bên cạnh của người Ilốt biến cư dân ở đây thành nô lệ tập thể. Sau cuộc xâm chiếm đó, quan hệ nô lệ được xuất hiện trọn vẹn. Sự phân chia giai cấp được xác lập vững chắc với việc phân chia cư dân thành ba giai cấp khác nhau là người Spac (thống trị), người Ilốt (nô lệ) và người Piriecơ (thợ thủ công).
Ngăn chặn không cho tầng lớp công thương nghiệp (người Pirieccơ) giàu lên, phát triển thế lực, NN Spac đã thi hành chính sách hạn chế công thương nghiệp. Thành bang Spac là quốc gia nông nghiệp.
3.2 Tổ chức bộ máy nhà nước cộng hoà quý tộc chủ nô Spac
– Đứng đầu là Hai Vua (tàn dư của chế độ công xã thị tộc-đứng đầu là hai thủ lĩnh), là thành viên trong hội đồng trưởng lão, vừa là thủ lĩnh QS, vừa là tăng lữ tối cao, vừa là người xử án. Tuy nhiêm, khác với những ông vua chuyên chính của phương Đông, quyền lực Hai vua không lớn lắm.
– Hội đồng trưởng lão gồm 28 vị trưởng lão và hai vua. Trưởng lão là người có đọ tuổi từ 60 tuổi trở lên được chọn từ đội ngũ những quý tộc danh vọng, có vai trò quan trọng trong bộ máy NN, có quyền quyết định những vấn đề liên quan đến vận mệnh đất nước.
– Hội nghị công dân, về hình thúc là CQ quyền lực cao nhất, mọi người Spac trên 30 tuổi đều có thể tham gia hội nghị công dân. Mọi người thông qua hay phản đối những vấn đề trong hội nghị bằng những tiếng thét chứ không được thảo luạn gì. Khi biểu quyết những vấn đề quan trọng những người dự hội nghị chia thành hai hàng, qua đó biết được tỷ lệ số người đồng ý hay phản đối. Tuy nhiên, hội nghị công dân thường chỉ mang tính hình thức vì dễ xảy ra tiêu cực lại không được họp thường xuyên mà phải tuỳ theo quyết định của Hai Vua.
– Về sau, do mâu thuẫn giữa hội đồng trưởng lão và hội nghị công dân ngày một gay gắt nên một CQ có quyền hạn rất lớn được thành lập đó là Hội đồng 5 quan giám sát-là đại biểu của tập đoàn quý tộc bảo thủ nhất, có quyền hành rất lớn như giám sát vua, giám sát hội đòng trưởng lão…Thực chất, nó là CQ lãnh đạo tối cao xủa NN nhằm tập trung quyền lực vào tay tầng lớp quý tộc chủ nô.
– NN Spac đặc biệt chú trọng quân đôị. Lục quân Spac là đội quân thiện chiến. Mọi ngưòi trong toàn đất nước đều chú ý phát triển quân đội, các bé trai được huấn luyện từ năm 7 tuổi để trở thành chiến sĩ dũng cảm, nhanh nhẹn..đến năm 20 tuổi được mặc quân phục và đến năm 60 tuổi mới được cởi bỏ bộ quần áo lính.
Trong quá trình phát triển của lịch sử Hy Lạp cổ đại, NN Spac là dinh luỹ của thế lực chủ nô phản động nhất, chống lại những thành bang theo chính thể CH dân chủ chủ nô. Quyền lực NN tập trung tối đa vào tay tập đoành quý tộc chủ nô và quyền dân chủ của những người tự do bị hạn chế tới mức tối thiểu. Bởi vậy, NN Spac là NN CH quý tộc chủ nô điển hình nhất.
4. Nhà nước cộng hoà dân chủ chủ nô Aten
4.1 Quá trình Aten chuyển sang chính thể cộng hoà
Cũng như nhiều vùng khác ở Hy Lạp, đến khoảng TK 8 – TK 6 TCN, Aten bắt đầu bước vào xã hội có giai cấp và có nhà nước.
ở Aten, công thương nghiệp phát triển rất sớm với tốc độ rất nhanh, bên cạnh tầng lớp quý tộc chủ nô, tầng lớp chủ nô mới (chủ nô công thương) xuất hiện rất sớm, tăng nhanh về số lượng và mạnh về kinh tế, họ giữ vai trò quan trọng trong quá trinhg hình thành và phát triển chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô Aten sau này.
Quá trình chuyển biến sang chính thể cộng hoà được chuyển biến và đấu tranh bằng nhiều hình thức như bạo lực, cải cách giữa một bên là chủ nô nông nghiệp (chủ nô cũ) và một bên là chủ nô công thương (chủ nô mới) để thiết lập nền cộng hoà, chủ yếu chuyển biến bằng cải cách với những cuộc cải cách lớn như cải cách Xôlông, cải cách Clixten, cải cách Pêriclet. Các cuộc cải cách đều theo hướng có lợi cho chủ nô công thương, hạn chế quyền lực chính trị của chủ nô nông nghiệp và tăng cường thế lực kinh tế, chính trị của chủ nô công thương và bình dân.
Qua các cuộc cải cách đã hình thành các đặc trưng cơ bản của nhà nước :
– chia dân cư theo khu vực hành chính để cai trị.
– cơ quan quyền lực công cộng : Đại hội công dân, hội đồng 500
Chủ nô công thương và bình dân thắng triệt để hình thành chính thể cộng hoà dân chủ chủ nô Aten.
4.2. Cấu trúc bộ máy nhà nước

Biểu hiện

5. Nhà nước La Mã
5.1. Quá trình hình thành và phát triển nhà nước La Mã
Bán đảo Italia vươn ra Địa Trung Hải có nhiều đồng bằng rộng và đất đai màu mỡ, lag nơi gặp gỡ của những luông văn minh Đông và Tây Địa Trung Hải. Trước khi La Mã chiếm toàn bộ Italia, ở đây coa 3 tộc người sinh sông, người Hy Lạp ở phía Nam, người Êtơrutxcơ ở phía Bắc và người Latin ở phía trung. Người Latinn cho xây dựng thành La Mã nên họ được gọi là người La Mã.
Quá trình hình thành NN La Mã là kết quả của cảc hai yếu tố : sự phân hoá XH, phân hoá giai cấp ở tộc người Latin và tộc người Êtơrutxcơ và cuộc đấu tranh của người Latin chống lại sự xâm lược của người Êtơrutxcơ. Xã hội người La Mã thời kỳ này vẫn là chế độ quân sự bộ lạc, sau đó, XH dần bị phân hoá thành quý tộc chủ nô, nô lệ, bình dân.
XH từng bước chuyển sang XH có giai cấp và nhà nước xuất hiện.
5.2 Tổ chức bộ máy NN La Mã (chính thể CH quý tộc sau đó chuyển sang chính thể quân chủ chuyên chế chủ nô)
Cơ cấu nhà nước La Mã được hình thành trong mấy thế kỷ, đến TK 3 TCN mới được hoàn chỉnh.
Chính thể CH quý tộc ở La Mã có những đặc điểm là ở TƯ các cơ quan chuyên chính gồm : Nghị viện (viện nguyên lão), Đại hội nhân dân và các cơ quan chấp chính.Nó thể hiện sâu sắc tính chất quý tộc của nhà nước La Mã. Đó là chính thể CH quý tộc.
Nghị viện (viện nguyên lão) gồm 300 người và chỉ những người giàu có mới được bầu vào nghị viện. Nghị viện là chính phủ, là cơ quan hành chính cấp cao nhất. Mặc dù không có quyền lập pháp nhưng nghị viện có quyền soạn thảo tất cả các dự thảo luật và nếu như nghị viện không đông ý thì đại hội nhân dân không thể thông qua được luật hoặc bầu ra những quan chấp chính.
Đại hội công dân gồm có đại hội xăng-tu-ri và đại hội nhân dân.
Đại hội xăng-tu-ri là đại hội theo đơn vị quân đội của các đẳng cấp, có quyền hàn lớn, giải quyết các vấn đề về chiến tranh, hoà bình, bầu ra các quan chức cao cấp của NN.
Đại hội nhân dân là cơ quan lập pháp, mọi công dân đều có quyền tham gia đại hội để giải quyết các vấn đề như những vấn đề liên quan đến lãnh thổ, các vấn đề liên quan tới hôn nhân, gia đình, thừa kế và việc thực hiện các nghi lễ tôn giáo.
Đại hội nhân dân là đại hội chỉ mang tính hình thức, các chức vụ đều không có lương và phải bỏ nhiều tiền để chiêu đãi, vì vậy, người nghèo khồn có điều kiện vào những chức vụ trong bộ máy nhà nước.
Cơ quan chấp hành và điều hành những công việc hằng ngày là các cơ quan chấp chính do đại hội nhân dân bầu ra.
Cùng với những thay đổi trong xã hội chiếm hữu nô lệ, các nhà nước chiếm hữu nô lệ có chính thể cộng hoà từng bước chuyển dần sang chính thể quân chủ. Quyền lực nhà nước chủ yếu tập trung vào tay các vua (hoàng đế), được truyền từ đời này sang đời khác theo nguyên tắc cha truyền con nối để bảo vệ lợi ích cho một số những chủ nô giàu có trong xã hội.
Nền cộng hoà quý tộc chủ nô bị xoá bỏ vĩnh viễn khi Oc-ta-vit lên nắm quyền, là viên tướng nắm quyền chỉ huy tối cao quân đội với danh hiệu hoàng đế, có toàn quyền quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước, hầu hết những cơ quan nhà nước của chính thể cộng hoà bị giải tán. Chính thể quân chủ chuyên chế vừa là sản phẩm của thời kỳ suy vong và sụp đổ của chế độ chiếm hữu nô lệ, vừa là công cụ thống trị của giai cấp chủ nô của đế quốc La Mã. Đến TK 5, đế quốc La Mã bị phong kiến hoá.
La Mã xây dựng bộ máy nhà nước theo chính thể cộng hoà quý tộc đã bắt đầu có sựu phân chia và giám sát quyền lực. Thiết chế chính trị của La Mã đã đặt nền móng cho chiều hướng phát triển của nền văn minh cận hiện đại của châu Âu.
Nguyên nhân của sự tan rã, suy vong của đế quốc La Mã :
– Quá rộng lớn
– QHSX PK đã được hình thành
– Người Giec-manh đã tràn vào xâm lược La Mã.
Đề cương môn lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới
13/ Nhận xét tính dân chủ của nhà nước Aten:
Trả lời:

– Bộ máy nhà nước của Aten được tổ chức theo nguyên tắc tập trung quyền lực vào hội nghị công dân, nghĩa là dành cho toàn thể công dân Aten quyền dân chủ. Do đó, có thể kết luận rằng nhà nước Aten được tổ chức theo hình thức chính thể Cộng hoà Dân chủ Chủ nô.
– Tuy nhiên, nền Cộng hoà Dân chủ này còn có những hạn chế của nó, như:
• + Chỉ những công dân nam Aten (có cha và mẹ đều là người Aten) từ 18 tuổi trở lên mới quyền tham gia vào Hội nghị công dân, còn phụ nữ, kiều dân và nô lệ thì không có quyền này. Trong khi tỷ lệ dân kiều dân và nô lệ chiếm một con số khá lớn.
• + Các cuộc họp của Hội nghị công dân đa số đều được tổ chức tại thành Aten, do đó, các công dân Aten sinh sống ở những vùng nông thôn xa xôi không có điều kiện để thường xuyên tham gia Hội nghị. Chỉ có một bộ phận nhỏ công dân Aten sinh sống tại thành Aten và các vùng nông thôn lân cận mới thỉnh thoảng tham gia vào cuộc họp của Hội nghị công dân. Chỉ có những cuộc họp bỏ phiếu bằng vỏ sò thì mới tập trung đông đảo công dân tham gia.
14/ Trình bày những nét cơ bản về quá trình dân chủ hóa nhà nước Aten( qua 3 cuộc cải cách của XoLong, Cixten, Periclet)

Trả Lời:

Cải cách của Xôlông: Năm 594 TCN, Xôlông, một đại biểu của tầng lớp quý tộc công thương nghiệp được bầu vào chức quan chấp chính. Trong thời gian đương nhiệm, ông thựa hiện cải cách mang lại dân chủ cho rộng rãi dân chúng, xoá bỏ đặc quyền của quý tộc thị tộc:
• Bãi bỏ nợ nần cho dân chúng, nhổ hết các thể cầm cố ruộng đất, trả ruộng đất cho nông dân tự do, cấm việc biến dân tự do thành nô lệ vì nợ. Điều này làm cho lực lượng của dân tự do đông hơn và củng cố được địa vị của mình, do đó, sau này dân tự do là lực lượng ủng hộ cho quý tộc mới thực hiện các cuộc cải cách sau này.
• Thành lập Hội đồng 400 người. Mỗi bộ lạc được cử 100 người thuộc đẳng cấp 1,2,3 tham gia vào hội đồng này. Hội đồng này có quyền tư vấn cho Quan chấp chính, soạn thảo những nghị quyết trước khi đưa ra bàn bạc, quyết định tại Hội nghị công dân; giải quyết các công việc thường ngày khi Hội nghị công dân không họp.
• Căn cứ theo tài sản, Xôlông chia dân cư thành 4 đẳng cấp. Người dân được hưởng quyền chính trị tương ứng với đẳng cấp của mình (xoá bỏ đặc quyền của quý tộc thị tộc):
• Đẳng cấp 1: gồm những người có thu nhập hàng năm từ 500 mêđim thóc trở lên (1 mêđim = 52,5 lít). Đẳng cấp này được hưởng đầy đủ quyền chính trị, được ứng cử vào các chức quan cao cấp (quan chấp chính, thành viên hội đồng trưởng lão…)và có nghĩa vụ cung cấp tiền của cho nhà nước để xây dựng các hạm đội, các công trình công cộng,…
• Đẳng cấp 2: thu nhập hàng name từ 300 đến 500 mêđim thóc
• Đẳng cấp 3: thu nhập hàng name từ 200 đến 300 mêđim thóc.
• Đẳng cấp 2 và 3 được quyền ứng cử vào hội đồng 400 người.
• Đẳng cấp 4: có ít hoặc không có ruộng đất, đẳng cấp này chỉ được quyền tham gia vào hội nghị công dân, không được quyền tham gia vào các cơ quan khác.
• Thành lập toà án công dân. Tại toà án này, mọi công dân đếu được quyền bào chữa và kháng án.
+ Cải cách của clixten:
• Bỏ 4 bộ lạc cũ và chia dân cư theo 3 khu vực. Mỗi khu vực chia thành 10 phân khu, và cứ 3 phân khu hợp lại thành một liên khu. Như vậy, ở aten lúc bấy giờ có tất cả là 10 liên khu.
• Vì 4 bộ lạc trước kia không cón nữa , do đó hội đồng 400 người cũng bị huỷ bỏ theo. Thay vào đó, clixten thành lập hội đồng 500 người. Mỗi một liên khu sẽ cử 50 người tham gia, không kể thuộc đẳng cấp nào.
• Thành lập Hội đồng 10 tướng lĩnh
• Để bảo vệ nền Cộng hoà Dân chủ và chống lại âm mưu thiết lập nền độc tài nên Clixten cón đặt ra luật bỏ phiếu bằng vỏ sò. Theo đó, nếu ai bị ghi tên trên hơn 6000 vỏ sò, tức bị hơn 6000 ý kiến cho là có âm mưu thiết lập nền độc tài thì sẽ bị trục xuất ra khỏi Hy Lạp trong vòng 10 năm.
• Bên cạnh đó, ông còn khuyến khích mọi người tham gia bảo vệ chế độ dân chủ bằng cách khen thưởng hoặc sẽ giải phóng thân phận cho nô lệ thành kiều dân hoặc từ kiều dân được công nhận là công dân Aten.
+ Cải cách của Pêriclet:
• Trả lương cho những người tham gia vào cơ quan nhà nước. Điều này tạo điều kiện cho dân nghèo có thể tham gia quản lý nhà nước.
• Thay chế độ bầu bằng chế độ bóc thăm để chọn ra nhân viên nhà nước.
[*] Tổ chức bộ máy nhà nước:
– Hội nghị công dân:
• + Thành viên: toàn thể công dân nam người aten (có cha và mẹ đều là người aten) từ 18 tuổi trở lên.
• + Hoạt động và quyền hạn:
• Cứ 10 ngày họp 1 lần. Trong buổi họp, các công dân có quyền tự do bàn bạc, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng, bầu những chức quan cao cấp, giám sát các cơ quan khác thông qua các đạo luật, ban hoặc tước quyền công dân…
– Hội đồng 500 người:
• + Chia thành 10 ủy ban. Một ủy ban gồm 50 người cua một liên khu, hoạt động trong thời gian 1/10 năm tức 36 đến 39 ngày. Tên của các thành viên của ủy ban này được lập thành một danh sách và theo danh sách đó, mọi người theo thứ tự của bản danh sách đảm nhiệm chức vụ chủ tịch ủy ban một ngày.
• + Quyền hạn, nhiệm vụ:
• Thi hành những quyết nghị của hội nghị công dân
• Giải quyết những vấn đề quan trọng giữa hai kỳ họp của hội nghị công dân.
• Giám sát công việc của các viên chức nhà nước
• Quản lý tài chính
• Thảo luận những vấn đề quan trọng trước khi trình ra quyết định tại hội nghị công dân.
– Hội đồng 10 tướng lĩnh:
• + Thành viên của hội đồng này không được cấp lương và được bầu ra tại hội nghị công dân bằng cách biểu quyết giơ tay.
• + Quyền hạn, nhiệm vụ: thống lĩnh quân đội, chịu sự giám sát của hội nghị công dân.
– Toà bồi thẩm:
• + Là cơ quan xét xử và giám sát tư pháp cao nhất.
• + Mọi công dân nam từ 30 tuổi trở lên được quyền ứng cử để trở thành thẩm phán. Hội nghị công dân sẽ bầu ra các thẩm phán bằng cách bỏ phiếu.
15/ Nêu các bộ phận cấu thành cơ bản của nhà nước Cộng hòa dân chủ chủ nô Aten:
Trả lời:
– Hội nghị công dân:
• + Thành viên: toàn thể công dân nam người aten (có cha và mẹ đều là người aten) từ 18 tuổi trở lên.
• + Hoạt động và quyền hạn:
• Cứ 10 ngày họp 1 lần. Trong buổi họp, các công dân có quyền tự do bàn bạc, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng, bầu những chức quan cao cấp, giám sát các cơ quan khác thông qua các đạo luật, ban hoặc tước quyền công dân…
– Hội đồng 500 người:
• + Chia thành 10 ủy ban. Một ủy ban gồm 50 người cua một liên khu, hoạt động trong thời gian 1/10 năm tức 36 đến 39 ngày. Tên của các thành viên của ủy ban này được lập thành một danh sách và theo danh sách đó, mọi người theo thứ tự của bản danh sách đảm nhiệm chức vụ chủ tịch ủy ban một ngày.
• + Quyền hạn, nhiệm vụ:
• Thi hành những quyết nghị của hội nghị công dân
• Giải quyết những vấn đề quan trọng giữa hai kỳ họp của hội nghị công dân.
• Giám sát công việc của các viên chức nhà nước
• Quản lý tài chính
• Thảo luận những vấn đề quan trọng trước khi trình ra quyết định tại hội nghị công dân.
– Hội đồng 10 tướng lĩnh:
• + Thành viên của hội đồng này không được cấp lương và được bầu ra tại hội nghị công dân bằng cách biểu quyết giơ tay.
• + Quyền hạn, nhiệm vụ: thống lĩnh quân đội, chịu sự giám sát của hội nghị công dân.
– Toà bồi thẩm:
• + Là cơ quan xét xử và giám sát tư pháp cao nhất.
• + Mọi công dân nam từ 30 tuổi trở lên được quyền ứng cử để trở thành thẩm phán. Hội nghị công dân sẽ bầu ra các thẩm phán bằng cách bỏ phiếu.
16/ So sánh và chỉ ra nét khác nhau cơ bản của Nhà nước Xpac và Nhà nước Aten (Hy Lạp cổ đại)
Trả lời:
– Hình thức nhà nước: Aten là Nhà nước Cộng hòa Dân chủ chủ nô. Xpac là Nhà nước Cộng hòa quý tộc chủ nô.
– Tổ chức xã hội:
o Aten: mới đầu cũng theo hình thức cộng hòa quý tộc chủ nô nhưng do kinh tế phát triển, công thương nghiệp dần chiếm vai trò chủ đạo dần liên kết với nông dân chống lại giai cấp quý tộc, thong qua ba lần cải cách của:XôLông, clixten, Periclet, đã dần chuyển từ hình thức cộng hòa quý tộc chủ nô sang chế độ cộng hòa dân chủ chủ nô.
o Xpac: sự hình thành nhà nước Xpac trên cơ sở của cuộc chiến tranh xâm lược của người Đô Riêng đối với người Akeang. Cuộc xâm chiếm làm xã hội hình thành các giai cấp mới:
 Người Xpac: là giai cấp thống trị, công việc là cai trị đất nước và đánh giặc. Nhà nước sở hữu toàn bộ đất đai và nô lệ. Tầng lớp quý tộc.
 Người Periet: Là người Akeang bị chinh phục, là người tự do có ruộng tài sản riêng nhưng không có quyền về chính trị, họ phải cống nạp cho người Xpac và không được lấy người Xpac.
 Người Ilốt: là nô lệ chung cho cả xã hội Xpac.
 Nhà nước Aten đã có sự dân chủ hơn so với nhà nước Xpac: Aten người dân tự do có quyền tham gia chính trị đấu tranh với giai cấp quý tộc đòi quyền lợi; trong khi đó nhà nước Xpac các giai cấp khác phải nghe theo sự thống trị của giai cấp quý tộc Xpac, họ ko được hưởng quyền lợi gì.
– Tổ chức bộ máy nhà nước:
o Nhà nước Xpac có 2 vua được tôn kính nhưng không có thực lực; Còn nhà nước Aten không có vua.
o Nhà nước Xpac có hội đồng nhân dân là hội đồng thảo pháp luật gồm các thành viên là quý tộc; Đại hội nhân dân thành viên là các công dân nam Xpac trên 30 tuổi đây là cơ quan có quyền lực về mặt hình thức, quyền lực thực sự tập trung trong hội đồng trưởng lão. Về sau do sự mâu thuẫn gay gắt giữa các giai cấp, để bảo vệ quyền lợi của mình giai cấp quý tộc đã lập ra Hội đồng 5 quan giám sát có chức năng và quyền hạn rất lớn, là cơ quan lãnh đạo tối cao, nhằm tập trung quyền lực vào tay giai cấp quý tộc. Khác với Xpac, Nhà nước Aten có sự tổ chức bộ máy nhà nước khác biệt, bao gồm hội nghị công dân: thành viên bao gồm công dân nam Aten trên 18 tuổi có quyền tự do bàn bạc thảo luận các vấn đề quan trọng. Tiếp là Hội đồng 500 người chia làm 10 ủy ban với nhiệm vụ thi hành và giải quyết vấn đề quan trọng trong hội nghị công dân, giám sát công việc nhà nước, quản lý tài chính. Hội đồng 10 thủ lĩnh: được bầu ra trong hội nghị công dân có nhiệm vụ thống lĩnh quân đội, giám sát hội nghị công dân. Đặc biệt có sự khác biệt so với Xpac là có thêm Tòa bồi thẩm chuyên xét xử giám sát tư pháp, thẩm phán được công dân Aten bỏ phiếu bầu ra.
 Cơ quan nhà nước Xpac đều do giai cấp quý tộc nắm giữ điều hành và bảo vệ lợi ích cho giai cấp mình, trong khi đó nhà nước Aten các cơ quan đều do công dân Aten lập ra có sự dân chủ tiến bộ. Tuy nhiên sự hạn chế dân chủ của cả hai nhà nước cũng được thể hiện đó là chỉ có công dân của Nhà nước đó mới có quyền tham gia chính trị, có sự phân biệt giai cấp.
17/ Nhận xét quan điểm cho rằng:” Hệ thống pháp luật luật La Mã là hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhất của nhà nước chiếm hữu nô lệ”.
Trả lời:
Quan điểm trên là đúng, Luật La Mã là bộ luật hoàn chỉnh nhất của nhà nước chiếm hữu nô lệ.
• Thứ nhất Luật La Mã dựa trên nền tảng của nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ, quan hệ nô lệ phát triển mạnh và mang tính điển hình đòi hỏi phải có hệ thống luật chặt chẽ chi phối mối quan hệ xã hội đó; lãnh thổ của đế quốc không ngừng được mở rộng do các cuộc chiến tranh xâm lược nên có nhiều kế thừa, sự kết hợp nhiều hệ thống pháp luật của những nước bị xâm lược.
• Thứ hai nó được thể hiện trên nguồn của bộ Luật, được lấy từ những nguồn sau: Những quyết định của hoàng đế La Mã; Các quyết định của cơ quan quyền lực cao nhất (viện nguyên lão); Các quyết định của toàn án; Các quyết định của các quan thái thú các tỉnh trong trường hợp không có luật điều chỉnh; Tập quán pháp; Hệ thống hóa luật pháp, các công trình của luật gia La Mã. Hệ thống nguồn luật rất phong phú.
• Thứ ba, pháp luật có những bước phát triển vượt bậc, đưa ra nhiều khái niệm chuẩn xác, có giá trị pháp lý cao. Kỹ thuật lập pháp chuẩn xác, từ ngữ rõ ràng trong sáng. Điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội quan trọng, phổ biến, đặc biệt là các quan hệ trong lĩnh vực dân sự.
18/ Tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến Trung Quốc triều đại Tần, Đường, Minh.

1. Nhà Tần (221-206 TCN)

Cửu Khanh gồm 9 viên quan phụ trách các công việc khác nhau : Đình uý coi việc hình, Thiếu phủ coi việc thuế khoá, Lang trung lệnh cai quản quân túc vệ nhà vua, Vệ uý trông coi cung điện…
Hoàng Đế có quyền lực tối cao. Mọi công việc quan trọng của nhà nước đề do các đại thần thảo luận nhưng Hoàng Đế là người quyết định cuối cùng, mệnh lệnh của Hoàng Đế phải được chấp hành tuyệt đối.
Dưới quận là huyện, đứng đầu là huyện lệnh. Dưới huyện là xã, đứng đầu là xã trưởng. Các quan đứng đầu Quận, Huyện đều do TƯ bổ nhiệm.
 Bộ máy nhà nước dưới triều Tần được tổ chức một cách quy củ, chặt chẽ, là sự phát triển cả về lượng và chất. Đây là cuộc cải cách bộ máy nhà nước lần đầu tiên ở Trung Quốc, đặt nền móng cho các triều đại tiếp theo.

2. Nhà Đường (618-907) – triều đại cực thịnh trong lịch sử phong kiến Trung Quốc,lừng lẫy hơn cả thời nhà Hán, tổ chúc HC-QS rất chặt chẽ, quân đội cơ động và linh hoạt, hậu cần giỏi, hoạt động bành trướng và ngoại giao rộng lớn

3. Nhà Minh (1368-1644)

Năm 1368, Chu Nguyên Chương lãnh đạo phong troà nông dân nổi dậy, lên ngôi Hoàng Đế, lập ra nhà Minh.
Năm 1376, nhà Minh tiến hành một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy nhà nước, làm cho cơ chế thực hiện quyền lực quân chủ phát triển tới mức chuyên chế cực đoan.

Mọi quyền lực tập trung trong tay Hoàng Đế, chức thừa tướng bị bãi bỏ, từng bộ của lục bộ phải chịu trách nhiệm trực tiếp dưới nhà vua. Ngoài ra còn có các cơ quan khác như Hàn lâm viện, quốc tử giám, tư thiên giám…
Quân đội : đặt ra ngũ quân đô đốc phủ (trung, tả, hữu, tiền, hậu). Khi có chiến tranh, Hoàng Đế cử tướng soái chỉ huy quân đội, khi kết thúc họ trả ấn tín cho nhiệm sở. Bằng cách đó, xây dựng được một hàng ngũ võ quan có tài và vua trực tiếp nắm chắc được quân đội.

Nguyên tắc :
– Bỏ bớt khâu trung gian, Hoàng Đế trực tiếp chỉ huy các chức quan quan trọng.
– Quyền hành không tập trung vào một quan chức mà được tản ra nhiều cơ quan khác nhau như Lục bộ, Tam ti.
19/ Trạng thái phân quyền cát cứ của nhà nước phong kiến Tây Âu
Thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến :
– Hình thành và củng cố : TK 2 đến trước năm 843
– Phát triển : sau năm 843 đến TK15
– Khủng hoảng, suy vong : TK 15 đến TK 17
Quan hệ PK được thể hiện :
– Quan hệ bóc lột bằng địa tô được thể hiện rõ nhất, đặc trưng của chế độ phong kiến
– Mối quan hệ giữa hai giai cấp cơ bản : địa chủ (lãnh chua PK) và nông dân (nông dân). Đây là mối quan hệ bất bình đẳng về mọi mặt. Nông dân hoàn toàn phụ thuộc vào địa chủ PK, không có ruộng đất.
– Chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất : tập trung vào tay giai cấp PK là nhiều nhất và gần như tuyệt đối.
– 843 : chế độ phân quyền cát cứ xuất hiện, ngày càng phát triển.
Biểu hiện của chế độ phân quyền cát cứ :
– Nguyên nhân :
• Nguyên nhân sâu xa : đế quốc Frăng được dựng lên do kết quả của những cuộc chiến tranh xâm lược và được duy trì bằng bạo lực, không có cơ sở kinh tế, chỉ là một liên hiệp tạm thời, không vững chắc. Trong phạm vi cả Tây Âu và phạm vi từng nước đều có khuynh hướng phát triển riêng, muốn tách ra khỏi sự ràng buộc của chính quyền TƯ.
• Nguyên nhân cơ bản, có tính quyết định là về kinh tế. Trong đó, trước hết phải nói đến chế độ sở hữu phong kiến về ruộng đất. Đó là sở hữu tư nhân rất lớn của PK. Được hình thành bằng hai nguồn : thứ nhất là chế độ phân phong ruộng đất và chế độ thừa kế ruộng đất, thứ hai là số ruộng đất ít ỏi của những nông dân tự do, nằm rải rác trong những khu đất dai của lãnh chúa. Chế độ phân phong và thừa kế dẫn tới hậu quả quyền sở hữu tối cao về ruộng đất không thuộc về nhà vua và dẫn tới trạng thái phân quyền cát cứ.
• Về giao thông, do chiến tranh liên miên lại không được sửa chữa nên việc đi lại gặp rất nhiều khó khăn và không an toàn. Vì vậy, liên hệ từng vùng không thường xuyên chặt chẽ.
• Ngoài ra, từng nước còn có những nguyên nhân khác.
VD : ở Pháp, có những thời kỳ mà ruộng đất của nhà vua ít hơn rất nhiều so với ruộng đất của các lãnh chúa PK, thế lực của nhà vua rất hạn chế. Những làn chúa lớn thường áp đảo nhà vua và tranh giành quyền lợi với nhau.
Nói đến trạng thái phân quyền cát cứ là nói đến lãnh địa và lãnh chúa PK. Đất đai được phân phong lần lượt trở thành tư hữu và tạo nên lãnh địa. Nà vua ở TƯ thực tế cũng chỉ là một lãnh chúa mà thôi. Có hai loại lãnh địa là lãnh địa PK và lãnh địa của giáo hội thiên chúa.
– Phân quyền cát cứ là trạng thái cơ bản nổi bật nhất trong thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến Tây Âu. Nó bao trùm, chi phối mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính trị phong kiến.
• Kinh tế : Nền kinh tế của lónh địa là nền kinh tế tự cung tự cấp. Lãnh địa có nhiều trang viên, các trang viên lại được chia thành hai phần, một phần do lãnh chúa trực tiếp quản lý, một phần được chia thành nhiều khoanh nhỏ để nông dân thuê lĩnh canh.
• Xã hội : Quan hệ cơ bản trong xã hội là quan hệ giữa lãnh chúa với nông dân. Nông dân coa ba loại : nông dân tự do, lệ dân và nông nô. Lệ dân và nông dân tự do trước sau gì cũng bị biến thành nông nô, cả đời phụ thuộc chặt chẽ vào lãnh chúa, làm lao dịch không công, nộp địa tô cho địa chủ…So với nô lệ trong xã hội cổ đại thì thân phận của nông nô có khá hơn, họ có nhà cửa, công cụ sản xuất, kinh tế gia đình riêng.
• Chính trị : Những tước vị và chức vụ mà nhà vua trao cho lãnh chúa nay trở thành cha truyền con nối, biến luôn khu vực HC đứng đầu thành lãnh địa riêng, biến thần thuộc, thần dân nhà vua thành thần thuộc, thần dân của lãnh chúa, có toà án xét xử riêng. Lãnh chúa có quyền đúc tiền, thu thuế..bộ phận quân đội của lãnh chúa hoàn toàn tách khỏi sự điều động của nhà vua. Giữa các lãnh chúa thường xảy ra chiến tranh nhằm mở rộng lãnh địa, quyền lực, tài sản.
Như vậy, trên thực tế, các lãnh địa đã biến thành những quốc gia nhỏ. Các lãnh chúa trở thành vua trên lãnh địa của mình, có đầy đủ các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, có quân đội, toà án, luật lệ riêng. Chính trong trạng thái phân quyền cát cứ, quan hệ PK được thể hiện rõ nét nhất, đây cũng là thời ký phát triển của chế độ PK Tây Âu.
20/ Tính không thống nhất của pháp luật phong kiến Tây Âu.

Tính không thống nhất của pháp luật phong kiến Tây Âu được biểu hiện ở nguồn luật và các chế định pháp luật. Nội dung của pháp luật phong kiến Tây Âu mang tính đặc quyêng, đặc lợi, bảo vệ địa vị của giai cấp địa chủ PK. Các bộ luật tiêu biểu : bộ luật Xa lích ( cuối TK 5, đầu TK 6), luật Vidigốt, luật Xắc xông…
– Thứ nhất là tính không thống nhất về nguồn luật : PLPK Tây Âu có nguồn luật rất đa dạng và phức tạp.
• Tập quán pháp : nguồn quan trọng nhất của PL, bắt nguồn từ nhiều phong tục tập quán của bộ tộc người Giéc-manh.
• Những quy định dẫn chiếu từ luật La Mã cổ đại. Nguyên nhân : PL thành văn của chế đọ PK ra đời chậm, tập quán pháp lại không bao trùm được các QHXH phổ biến, luật La Mã điều chỉnh rất rộng và cụ thể các QHXH, kĩ thuật lập pháp rõ ràng, chuẩn xác.
• Luật pháp của triêu đinhg PK, bao gồm chiếu chỉ,mệnh lệnh của nhà vua, các án lệ và quyết định của toà án nhà vua.
• Luật lệ giáo hội thiên chúa giáo. Nó không chỉ điều chỉnh các quan hệ tôn giáo mà còn cả các quan hệ khác trong XH như QH hôn nhân, thừa kế…
• Luật lệ của các lãnh chúa, chính quyền ở các thành phố tự trị.
Tuỳ từng vùng, từng thời kì, vai trò và việc sử dụng các nguồn luật là khác nhau.
VD: ở miền Bắc nước Pháp, yếu tố kinh tế hàng hoá kém phát triển nên sử dụng chủ yếu là tập quán pháp của bộ luật Xa lích; ở miền Nam nước Pháp, yếu tố kinh tế hàng hoá phát triển hơn, luật La Mã có ảnh hưởng sâu và rộng, luật thành văn cũng sớm phát triển hơn so với miền Bắc.
Nhưng nhìn chung, PLPK Tâu Âu thành văn ra đời muộn, kém phát triển lại được biên soạn rất đơn giản, hầu như chỉ quy định việc nộp phạt của các loại tội. Mãi đến TK 11-12, PL thành văn mới phát triển.
– Thứ hai là sự không thống nhất về các chế định pháp luật. Do chế độ phân quyền cát cứ, ở các lãnh địa riêng đều có luật lệ riêng, toà án riêng nên có sự không thống nhất về các chế định pháp luật.
VD : Chế định về hôn nhân gia đình là không thông nhất. Đối với cùng một vụ việc trong các bộ luật của các vùng khác nhau, ở các thời kỳ khác nhau là khác nhau. ở thời kỳ đầu, theo phong tục, người phụ nữ goá phải lấy anh hoặc em trai chồng (chưa vợ) nhưng theo bộ luật Xa lích, người phụ nữ goá có thể lấy người khác với 2 điều kiện là phải được gia đình chồng cũ cho phép và người chông mới phải nộp một số tiền cho gia đình người chồng cũ.
21/ Trình bày những điều kiện kinh tế – xã hội của sự ra đời và tồn tại nền quân chủ phân quyền cát cứ ( từ thế kỉ IX đến thế kỉ XV) ở Tây Âu thời Phong kiến.
Về điều kiện kinh tế: Chế độ sở hữu phong kiến về ruộng đất quá lớn. Ruộng đất được phân phong và thừa kế, làm cho 1 số ít người sở hữu nhiều ruộng đất. Số ruộng đất ít ỏi của nông dân tự do lại nằm rải rác trong lãnh địa của lãnh chúa.
Về điều kiện xã hội: Quan hệ xã hội lúc bấy giờ vẫn là quan hệ giữa lãnh chúa và nông nô. Lãnh chúa nắm phần lớn đất đai, nông nô bị phụ thuộc hoàn toàn vào lãnh chúa => quyền lực tập trung cả vào tay lãnh chúa.
Năm 843, chế độ phân quyền cát cứ ở Tây Âu xuất hiện và ngày càng phát triển.
Nguyên nhân cơ bản dẫn tới trạng thái phân quyền cát cứ ở Tây Âu là nền Kinh tế.
Chế độ phân phong và thừa kế dẫn tới hậu quả quyền sở hữu tối cao về ruộng đất không thuộc về nhà vua và dẫn tới trạng thái phân quyền cát cứ.
Phân quyền cát cứ là trạng thái cơ bản nổi bật nhất trong thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến Tây Âu.
+ Kinh tế : Nền kinh tế của lãnh địa là nền kinh tế tự cung tự cấp. Lãnh địa có nhiều trang viên, các trang viên lại được chia thành hai phần, một phần do lãnh chúa trực tiếp quản lý, một phần được chia thành nhiều khoanh nhỏ để nông dân thuê lĩnh canh.
+ Xã hội : Quan hệ cơ bản trong xã hội là quan hệ giữa lãnh chúa với nông dân. Nông dân có ba loại : nông dân tự do, lệ dân và nông nô. Lệ dân và nông dân tự do trước sau gì cũng bị biến thành nông nô, cả đời phụ thuộc chặt chẽ vào lãnh chúa, làm lao dịch không công, nộp địa tô cho địa chủ…So với nô lệ trong xã hội cổ đại thì thân phận của nông nô có khá hơn, họ có nhà cửa, công cụ sản xuất, kinh tế gia đình riêng.
22/ Trạng thái phân quyền cát cứ ở Tây Âu thời phong kiến có ảnh hưởng như thế nào đến tổ chức bộ máy nhà nước
Trạng thái phân quyền cát cứ ở Tây Âu thời phong kiến đã biến đổi bộ máy nhà nước.
Những tước vị và chức vụ mà nhà vua trao cho lãnh chúa nay trở thành cha truyền con nối, biến luôn khu vực hành chính đứng đầu thành lãnh địa riêng, biến thần thuộc, thần dân nhà vua thành thần thuộc, thần dân của lãnh chúa, có toà án xét xử riêng. Lãnh chúa có quyền đúc tiền, thu thuế..bộ phận quân đội của lãnh chúa hoàn toàn tách khỏi sự điều động của nhà vua. Giữa các lãnh chúa thường xảy ra chiến tranh nhằm mở rộng lãnh địa, quyền lực, tài sản => Lãnh chúa trở thành người đứng đầu lãnh địa của mình.
Như vậy, trên thực tế, các lãnh địa đã biến thành những quốc gia nhỏ. Các lãnh chúa trở thành vua trên lãnh địa của mình, có đầy đủ các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, có quân đội, toà án, luật lệ riêng. Chính trong trạng thái phân quyền cát cứ, quan hệ PK được thể hiện rõ nét nhất, đây cũng là thời ký phát triển của chế độ PK Tây Âu.

23/ Phân tích những điều kiện kinh tế – xã hội dẫn đến xác lập nền quân chủ chuyên chế ở Tây Âu thời kỳ phong kiến.

Trả Lời:
Điều kiện kinh tế – xã hội
Thế kỷ 15, Tây Au bước vào giai đoạn phong kiến hậu kỳ. Trong thời kỳ này, sự phát triển của kinh tế làm cho xã hội Tây Au có nhiều thay đổi sâu sắc.
– Về kinh tế
+ Công thương nghiệp đạt được những thành tựu quan trọng. Việc phát minh ra lò cao, máy hơi nước, máy dệt, máy in… làm cho nhiều ngành công nghiệp phát triển. Sự phân công lao động thủ công được đẩy mạnh, nhiều nghề mới ra đời. Lao động thủ công từ hợp tác đơn thuần tiến dần lên công trường thủ công – hình thức đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa.
+ Trong nông nghiệp, tuy không có sự phát triển vượt bậc như trong công nghiệp, không có sự phân công lao động một cách tỉ mỉ, nhưng nó cũng có nhiều tiến bộ đáng kể, như: khối lượng nông sản phẩm, diện tích gieo trồng tăng lên, phương pháp canh tác tiến bộ. Ngoài cung cấp lương thực, nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến. Một số địa phương còn có xu hướng chuyên môn hoá việc cung cấp nguyên liệu là nông sản.
– Về xã hội
+ Trên cơ sở của sức sản xuất, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được hình thành. Hàng loạt nông dân mất hết ruộng đất, nhiều thợ thủ công bị phá sản, trở thành đội ngũ của những người làm thuê. Giai cấp tư sản hình thành và ngày càng khẳng định được vị trí của nó trong xã hội phong kiến.
+ Do nhu cầu cần có một thị trường thống nhất, cần có một chính quyền mạnh để bảo hộ kinh doanh, sản xuất và mua bán, giai cấp tư sản đã liên minh và giúp đở nhà Vua để chống lại bọn lãnh chúa phong kiến cát cứ và xây dựng một nhà nước trung ương tập quyền.
+ Trong khi đó, lãnh chúa phong kiến ngày càng tăng cường bóc lột nông dân làm cho mâu thuẫn giữa lãnh chúa phong kiến với nông dân trở nên gay gắt. Giai cấp tư sản lợi dụng phong trào quần chúng để tấn công vào bọn lãnh chúa phong kiến, làm suy yếu lực lượng của chúng.
+ Trong tình hình đó, chính quyền nhà vua đã phải dựa vào lực lượng của giai cấp tư sản để củng cố sự thống trị của mình. Kết quả là, vào các thế kỷ 15 – 16, chế độ quân chủ chuyên chế đã lần lượt được thiết lập ở các nước Tây Au.

24/ Phân tích những điều kiện kinh tế – xã hội dẫn đến sự xuất hiện chế độ tự trị của các thành thị ở Tây Âu thời kỳ phong kiến.

Trả lời:
Điều kiện kinh tế
Đến thế kỷ thứ 11, nền kinh tế Châu Au phát triển vượt bậc, chủ yếu là trong lĩnh vực thủ công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp.
– Trong thủ công nghiệp, nhiều ngành nghề mới ra đời với trình độ kỹ thuật ngày càng hoàn thiện (luyện kim, khai mỏ, chế tạo vũ khí, thuộc da, dệt len, dạ…).
– Trong nông nghiệp, do có nhiều tiến bộ, như: nông cụ được cải tiến, đồ sắt được sử dụng phổ biến trong xã hội, diện tích canh tác không ngừng được mở rộng… làm cho sản lượng và số lượng nông sản ngày càng nhiều đa dạng.
– Thương nghiệp do đó cũng phát triển. do thợ thủ công và nông dân đều tạo ra những sản phẩm dư thừa, họ phải nhờ tới lực lượng thương nhân. Nhờ vậy, người thợ thủ công không cần sản xuất nông nghiệp cũng có cái để ăn và người nông dân không cần sản xuất thủ công nghiệp cũng có dụng cụ, đồ dùng … Mặt khác, nông nghiệp còn là nơi cung cấp nguyên vật liệu cho ngành thủ công nghiệp. Điều này tạo điều kiện cho các thợ thủ công có cơ hội thoát ly hoàn toàn khỏi nông nghiệp để chuyên môn hoá ngành nghề của mình.
Sự lao động trong xã hội lại một lần nữa được phân công, làm cho kinh tế trong xã hội khôi phục sau cuộc khủng hoảng của chế độ chiếm hữu nô lệ. Chính sự phân công lao động này là điều kiện quan trọng để dẫn đến sự ra đời của các thành thị ở Tây Au trong thời kỳ trung đại.
Điều kiện xã hội
Thế nhưng, nếu chỉ có các điều kiện kinh tế như trên thì vẫn chưa dẫn đến sự ra đời của thành thị ở Tây Au; mà bên cạnh các điều kiện kinh tế đó, còn có sự tác động của điều kiện xã hội.
• Sự đối kháng giai cấp
Một trong các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành các thành thị tại Tây Au là sự đối kháng giai cấp xảy ra giữa nông nô, cũng như giữa những người nông dân lệ thuộc khác với các lãnh chúa phong kiến.
– Những người nông nô có tay nghề thủ công chuyên nghiệp vì muốn thoát khỏi sự bóc lột của lãnh chúa phong kiến, nên họ đã tìm đủ mọi cách để trốn khỏi các trang trại phong kiến.
Những người làm nghề thủ công này tập hợp tại một địa phương và dân số dần dần tăng lên. Người tới lui mua bán, trao đổi với họ ngày càng nhiều. Vì vậy mà những thành phố công thương nghiệp tập trung dần dần xuất hiện.
– Đối với nông nô, do muốn thoát khỏi sự bóc lột của lãnh chúa phong kiến nên họ rời bỏ ruộng đất, đến vùng thành thị để sinh sống và trở thành cư dân của thành thị, làm cho dân cư thành thị ngày càng phát triển. Do đó, thành thị cũng ngày càng phát triển theo.
– Đối với lãnh chúa phong kiến và những giáo sĩ thuộc gíao hội Cơ đốc giáo, do thấy công thương nghiệp ở thành thị có thể mang đến nguồn thu nhập cho mình, nên họ thường kêu gọi những người nông nô bỏ trốn đến vùng đất của họ để sinh sống dưới sự thống trị của họ.
Bên cạnh đó, sự xuất hiện của thành thị còn làm cho chất lượng của đời sống của lãnh chúa càng nâng cao, đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt của lãnh chúa.
Mặt khác, lúc này hình thức thu địa tô chủ yếu là tô hiện vật, làm cho các hiện vật trong nhà lãnh chúa trở nên dư thừa, ông ta muốnbán những thứ đó đi để lấy tiền, và ông ta ủng hộ, tạo điều kiện cho sự ra đời ngày càng nhiều, ngày càng phát triển của thành thị.
• Cuộc chiến tranh thập tự
Diễn ra trong khoảng thế kỷ thứ 11. Mục đích của các cuộc thập tự chinh này là nhằm chiếm các vùng đất giàu có, màu mỡ của phương Đông, của vùng đất Jêrusalem. Mặc dù cuộc chinh chiến này có chiếm cứ được một số vùng đất ở phương Đông trong một thời gian nhất định, nhưng cuối cùng vẫn thất bại nặng nề. Tuy nhiên, qua cuộc thập tự chinh này, các tộc người Giecmanh (vừa thoát khỏi chế độ côngxã thị tộc) đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm về mua bán đang phát triển của các quốc gia phươngĐông, tạo lập được mối quan hệ thương mại với các quốc gia này, làm cơ sở cho việc phát triển các thành thị ở phương tây.
Từ những điều kiện kinh tế – xã hội nói trên, thành thị đã xuất hiện hàng loạt ở Tây Au từ khoản thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 13 (chẳng hạn: Strasbourg, Saint Quentin, Saint Maur, Oxford, Frănkfut, Paris…

25/ Phân tích những điều kiện kinh tế – xã hội dẫn đến sự xuất hiện của chế độ đại diện đẳng cấp ở Tây Âu thời kỳ phong kiến.

Trả lời:
Điều kiện kinh tế – xã hội:
– Thế kỷ 11 ở Tây Âu các quốc gia đều ở chế độ phong kiến phân quyền: Đất nước chia ra làm nhiều lãnh địa phong kiến hoàn toàn tự trị. Các nhà vua chiếm giữ được một số lãnh địa và thành thị lớn, xây dựng vương quyền tương đối hùng mạnh, khống chế các lãnh chúa phong kiến. Các lãnh chúa phong kiến đều manh nha bạo động muốn đc độc lập.
– Các vương triều đều ra sức củng cố quyền lực, làm suy yếu các lãnh chúa phong kiến bằng nhiều cách:
o Thế kỷ 12, khi mà thủ công nghiệp phát triển làm cho các thành thị không ngừng lớn mạnh. Thị dân đấu tranh với các lãnh chúa pk, nhà vua ủng hộ thi dân với mong muốn làm cho quyền lực lãnh chúa suy yếu. Cùng với đó các giáo hội, nhà tu đều trở thành đồng minh của nhà vua nhằm thoát khỏi sự xâm phạm của lãnh chúa pk.
o Trong cuộc chiến tranh tang cường quyền lực nhà vua đc sự ủng hộ của thị dân, nên địa vị của thị dân trong chính quyền cuả nhà vua ngày càng được nâng cao.
– Cùng với đó nhà vua có mâu thuẫn với giáo hội, nên các lãnh chúa phong kiến nổi dậy chống đối, trước tình thế đó nhà vua rất cần sự ủng hộ của các tầng lớp khác để làm áp lực với giáo hội. Do đó, nhà vua dung nạp cả những đại biểu của thị dân và kỵ sĩ vào các kỳ đại hội quan trọng, bên cạnh tăng lữ và quý tộc.
26/ Nhà nước tư sản Anh thời cận đại (thời kỳ CNTB tự do cạnh tranh)

1. CMTS Anh và sự thiết lập chính thể quân chủ nghị viện :

Quan hệ sản xuất TBCN ra đời ngay trong lòng XHPK đã đáp ứng được nhu cầu về giải phóng sức lao động, thay thế cho QHSX PK đã lỗi thời, lạc hậu. QHSX TBCN với tính chất tiến bộ hơn đã thúc đẩy LLSX phát triển, điều này dẫn đến mâu thuẫn giữa QHSX PK với trình độ phát triển của LLSX, mâu thuẫn này càng ngày càng gay gắt. Giai cấp TS muốn tiến hành cuộc CMTS nhằm xoá bỏ QHSX PK, thíêt lập QHSX mới, đó là QHSX TBCN.CMTS Anh là cuộc cách mạng không triệt để.

– Chính thể CH nghị viện : không còn vua, chỉ có hai viện là thượng nghị viện (giai cấp quý tộc và tăng lữ, vì vậy bị giải tán) và hạ nghị viện (giai cấp TS, nắm quyền lập pháp và hành pháp)
– 2-1689, chính thể quân chủ nghị viện được thành lập, đạo luật quyền hành được ban bố, ngôi vua được thiết lập nhưng chỉ trị vì chứ không cai trị.

2. Tổ chức bộ máy NNTS Anh theo chính thể quân chủ nghị viện (thành phần,cách thức thành lập, vai trò quyền hạn).
a. Nguyên thủ quốc gia (Hoàng Đế – Nữ Hoàng)
– Cách thức thành lập : Theo nguyên tắc thừa kế
– Vai trò, quyền hạn :
• Vai trò : tượng trưng cho sự thống nhất, bền vững của quốc gia và dân tộc. Ngày Quốc khánh của nước Anh không cố định mà lấy theo ngày sinh của nguyên thủ quốc gia đương nhiệm.
• Quyền hạn : không có thực quyền trong bộ máy nhà nước, chính trị, có nguồn gốc sâu xa từ đạo luật quyền hành ban hành thàng 2-1689. Có quyền bổ nhiệm người đứng đầu chính phủ nhưng không thể bổ nhiệm một người nào khác nếu người đó không phải thủ lĩnh của Đảng cầm quyền.
b. Nghị viện:
– Thành phần :
• Thượng nghị viện (1885 người)
• Hạ nghị viện (635 đại biểu)
– Cách thức thành lập:
• Thượng nghị viện (viện nguyên lão): đại quý tộc mới, thượng nghị sĩ là những quý tộc có phẩm hàm từ bá tước trở lên thì được cha truyền con nối, các thủ tướng hết nhệm kì, một số hoàng thân quốc thích do HHĐ bổ nhiệm.
• Hạ nghị viện do đại diện các tầng lớp nhân dân bầu ra.
Vai trò, quyền hạn: rất lớn để hạn chế tới mức tối đa quyền hạn nhà vua, làm cho ngai vàng trở thành hư vị. Ban đầu, quyền hạn của thượng viện lớn hơn nghị viện nhưng về sau, hạ viện ngày càng có quyền lực, lấn át vai trò, quyền hạn của thượng nghị viện…Thượng viện hoạt động rất hình thức, mang tính chất danh nghĩa, vừa là thế lực kiềm chế và đối trọng của hạ viện. ở Anh có hai đảng thay nhau cầm quyền là đảng Tự do và đảng Bảo thủ.
+ Quyền lập pháp, ban hành Hiến pháp và luật
+ Quyền quyết định ngân sách và thuế
+ Quyền giám sát hoạt động nội các, bầu hoặc bãi nhiệm các thành viên của nội các.
+ Quyền thành lập chính phủ
c. Chính phủ
– Cách thức thành lập : được lập ra từ đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện, nếu số ghế ngang bằng nhau thì thanhg lập chính phủ liên minh các đảng; thủ lĩnh của đảng chiếm đa số ghế thì được bầu làm thủ tướng (người đứng đầu chính phủ), nếu số ghế ngang nhau thì Nghị viện chỉ bầu ra một thủ lĩnh đảng làm thủ tướng.
– Cơ cấu : đa dạng, bao gồm cả bộ trưởng, thứ trưởng, phụ tá…. (khoảng 40-60 người)
– Vai trò, quyền hạn : có quyền hành pháp, đưa lực lượng vũ trang ra ngoài gây chiến, có quyền ban hành tình trạng khẩn cấp trong nước Anh hay một vùng.
* Ngoài nguyên thủ quốc gia, nghị viện, chính phủ còn có hệ thống toà án, quân đội…
Hệ thống toà án gồm có hệ thống toà án TƯ và hệ thông toà án địa phương
Quân đội : sau CM chủ yếu đi xâm lược, mở rộng thị trường, lãnh thổ..
Cơ cấu lãnh thổ : đơn nhất, thông nhất một HP, một hệ thống luật, một hệ thống cơ quan từ TƯ tới địa phương, một quốc tịch, một hệ thống toà án.
Chế độ chính trị : 2 đảng bản chất phục vụ cho giai cấp TS sinh ra để phân chia quyền lực, ngăn căn đảng cộng sản nắm chính quyền.
Bản chất giai cấp : phục vụ cho giai cấp TS. Tuy vậy vẫn mang tính XH : đi đầu CN hoá, cơ giới hoá phục vụ cho các giai cấp trong xã hội.
Đầu TK 19 trở thành một quốc gia cường thịnh, rộng lớn, là đế quốc chiếm được nhiều thuộc địa nhất, “mặt trời không bao giờ lặn trên đất nước Anh”.
27/ Nhà nước tư sản Mỹ thời cận đại
1. Cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ. Sự thành lập Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
1607- 1752, Đế quốc Anh thiết lập 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ, biến nơi đây thành thị trường tiêu thụ cho chính quốc, sử dụng hình thức bóc lột PK và chiếm nô, tìm mọi cách ngăn chặn sự phát triển ở khu vực Bắc Mỹ…TS và CNTB ở Bắc Mỹ rất phát triển, mâu thuẫn với TS ở đế quốc Anh. Mâu thuẫn giữa các giai cấp, các thuộc địa với chính quốc ngày càng trở nên sâu sắc. Bởi vậy, nhân dân các thuộc địa dưới sự lãnh đạo của giai cấp TS đã nổi dậy tiến hành cuộc chiến tranh để giành độc lập. Đó là cuộc CMTS vì nó không chỉ dành độc lập cho các thuộc địa mà còn xoá bỏ tàn tích PK, dọn đường cho CNTB ở Bắc Mỹ phát triển mạnh mẽ.
Cuộc CMTS ở Bắc Mỹ khác với cuộc CMTS Anh năm 1640 vì nó là một cuộc CMTS triệt để, thể hiện ở :
– 12/1773, Sự kiện chè Boston đã châm ngòi cho cuộc chiến
– 9/3/1783, TD Anh buộc phải chính thức ký kết hiệp định Vec-xai.Cuộc CMTS ở Bắc Mỹ chỉ diễn ra trong vòng 10 năm nhưng rất triệt để.
– 4/7/1776, bản tuyên ngôn độc lập ra đời khẳng định quyền con người, khảng định chính quyền là của nhân dân, do nhân dân thiết lập nên và có quyền đánh đổ khi chính quyền đó đi ngược lại lợi ích của nhân dân; nó cũng khẳng đínhự tồn tại của nền chuyên chế PK, buộc phải lật đổ để thiết lập nền dân chủ.
– 10/1776, một số bang giành được độc lập, hội nghị lục địa được triệu tập, các điều khoản liên bang với nội dung chủ yếu là thiết lập uỷ ban lâm thời để lãnh đạo cuộc CM, quyền lực của mỗi bang là rất lớn, chính quyền liên bang có quyền lực rất hạn chế.

2. Hiến pháp 1787-Tổ chức bộ máy NNTS Mỹ
b. Nguyên tắc xây dựng hiến pháp : theo nguyên t¾c tam quyền phân lập.
– Quyền lực nhà nước buộc phải chia thành các nhánh quyền lực khác nhau
– Các nhánh quyền lực này phải do các cơ quan khác nhau nắm giữ
– Mỗi nhánh quyền lực phải chịu sự kiểm tra, giám sát của các nhành quyền lực khác.
 Tạo ra thế kiềm chế, đối trọng giữa các nhánh quyền lực.
c. Tổ chức bộ máy NNTS Mỹ :
o Nguyên tắc
– Nguồn gốc 3 nhánh quyền lực là khác nhau, HP quy định đối tượng cử tri bầu ra các nhánh là khác nhau.
– Các nhánh có nhiệm kỳ khác nhau
– 3 cơ quan này luôn phải thực hiện nguyên tắc kiềm chế, đối trọng để không cơ quan nào nắm trọn vẹn quyền lực nhà nước.
o Nhà nước TS Mỹ là nhà nước TS điển hình nhất của chính thể cộng hoá tổng thống.ở chính thể này, tổng thông vừa là nguyên thủ QG, vừa là người đứng đầu cơ quan hành pháp. Chính phủ chỉ cịu trách nhiệm trước tổng thống, không chịu trách nhiệm trước nghị viện, không thể bị nghị viện giải tán.
o Nghị viện : Điều 1 khoản 1 HP 1787 quy định, mọi thẩm quyền lập pháp đều thuộc về nghị viện. Nghị viện bao gồm thượng viện và hạ viện.
– Thượng viện : Là CQ đại diện của các bang. Mỗi bang được bầu ra 2 thượng nghị sĩ vì thẩm quyền độc lập được trao cho thượng nghị viện, trong quá trình biểu quyết giữa các bang luôn bảo đảm quyền lợi bình đẳng.
Thẩm quyền độc lập : Thẩm quyền độc lập :
• quyền kết tội các quan chức cao cấp của chính phủ.
• kìm chế quyền hành pháp cao nhất của tổng thống :phê chuẩn các quan chức cao cấp do tổng thống bổ nhiệm.
• quyền tư pháp : bổ nhiệm các chánh án và thẩm phán của các viện tối cao
• các đại sứ ngoại giao và điều ước Quốc tế do tổng thống bổ nhiệm phải được thượng nghị viện phê chuẩn.
– Hạ nghị viện : là cơ quan dân biểu, số lượng : 435 hạ nghị sĩ, nhiệm kỳ 2 năm. Được quyền phê chuẩn các dự án lợi tức của chính quyền liên bang.
– Thẩm quyền chung :
• Thông qua các dự án luật
• Thông qua các chính sách thuế và giám sát quá trình thu thuế
• Tuyên bố tình trạng chiến tranh và chấm dứt chiến tranh
• Nhận xét :
NNTS Mỹ duy trì chế độ lưỡng đảng cân bằng, thẩm quyền mỗi viện là rất lớn và tương xứng, đặc biệt thẩm quyền chung của Nghị viện Mỹ khi luôn quy định biểu quyết là 2/3, làm cho các quyết định được thông qua ở nghị viện mang tính chính xác rất cao. Chức năng quyền hạn của nghị viện Mỹ trên thực tế là kìm chế, đối trọng với các nhánh quyền lực khác, đặc biệt là quyền hành pháp. Nghị viện của NNTS Mỹ là nghị viện hoạt động có hiệu quả nhất và có quyền năng thực chất nhất.
o Tổng thống : Điều 2 khoản 1 HP 1787 quy định: mọi quyền hành pháp cao nhất thuộc về Tổng thống hợp chủng quốc Hoa kì. Thế quyền của Tông thống Mỹ là một trong những thế quyền nắm bắt quyền lực lớn nhất. Nước Mỹ không thể một ngày không có Tổng thống.
• Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa đứng đầu cơ quan lập pháp, có quyền lập ra chính phủ của mình. HP Mỹ còn trao cho Tổng thống trọng trách là điều hành, quản lý làm cho HP&PL được thực thi một cách tốt nhất. Với quy định ấy, Tổng thống là người duy nhất có quyền quản ký nhà nước.
• Biểu hiện : HP&PL không trao cho phó tổng thống và các bộ trưởng bất kỳ một thẩm quyền độc lập nào của chính quyền liên bang.
• Điều kiện để được đi tranh cử tông thống :
– 35 tuổi trở lên,
– phải được sinh ra tại nước Mỹ,
– 14 năm làm việc và sinh sống tại bang ra tranh cử,
– nhiệm kỳ 4 năm, không đương chức quá 2 nhiệm kỳ
• Thẩm quyền, quyền hạn :
– Nhánh quyền hành pháp : là người duy nhất có quyền bổ nhiệm các bộ trưởng để thành lập chính phủ của mình. Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm trước Tổng thống, không chịu trách nhiệm trước nghị viện. Chính phủ chỉ là cơ quan tư vấn, giúp việc cho tổng thống. Ngoài ra, Tổng thống còn được quyền ban bố tất cả các loại văn bản như chỉ thị, quyết định mà không cần phải có sự phê chuẩn của nghị viện.
– Nhánh quyền lập pháp : có quyền phê chuẩn tất cả các đạo luật quyền phủ quyết của tổng thống đối với các đạo luật đã được nghị viện thông qua.
– Chỉ duy nhất Tổng thống được quyền triệu tập các phiên hopc đặc biệt hoặc của mỗi viện, hoặc cả hai viện mà ở các phiên họp ấy, Tổng thống thông báo những vấn đề quan trọng nhất của chính quyền liên bang.
– Quyền tư pháp : được quyền bổ nhiệm tất cả các thành viên của pháp viện tối cao toàn liên bang với nhiệm kỳ suốt đời.
– Quyền ân xá tội phạm
– Quyền quân sự và đối ngoại : Tổng thống là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, có quyền bổ nhiệm các tướng lĩnh cao cấp trong quân đội, là người đứng đầu các lực lượng an ninh QG, cho phép Tổng thống được sử dụng lực lượng quân đội để bảo vệ hoà bình và an ninh nước Mỹ.
– Được quyền tuyên bố và chấm dứt tình trạng khẩn cấp
– Được quyền bổ nhiệm các đại sứ ngoại giao, ký các điều ước quốc tế, đông thời có trách nhiệm bảo vệ người Mỹ sinh sông và làm việc ở nước ngoài cũng như người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Mỹ thông qua con đường ngoại giao.
o Pháp viện tối cao : gồm 9 thẩm phán do Tổng thống bổ nhiệm và được sự chấp thuận của thượng nghị viện. Quyền hạn :
– Phán quyết các đạo luật có hợp hiến hay không
– Giải thích PL
– Quyền tối cao về xét xử
d. Thủ đoạn hai đảng tư sản thay nhau cầm quyền
Mục đích :
– Bảo đảm giai cấp tư sản độc quyền thống trị nhà nước
– Ngăn chặn đại biểu của quần chúng nhân dân trở thành quan chức trong bộ máy NNTS
– Các đảng TS là nơi cung cấp đội ngũ quan chức cho bộ
e. Chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước TS Mỹ
• Chức năng đối nội :
– Duy trì, củng cố, bảo vệ sự thông trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng của giai cấp TS trong XH TBCN
– Quản lý nền kinh tế TBCN
– Giải quyết những vấn đề XH quan trọng và cấp bách
• Chức năng đối ngoại
– Phòng thủ đất nước, chống xâm lược từ bên ngoài
– Mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước trên TG
– Bành trướng, mở rộng thị trường như Mỹ Latinh, các nước ở châu á. Đến cuối TK 19, Mỹ trở thành đối thủ đáng gờm của các thực dân châu Âu trong cuộc chiến giành thuộc địa.
28/ Nội dung và ý nghĩa của hiến pháp tư sản Mỹ năm 1787
Năm 1787, Mỹ ban hành bản Hiến Pháp, trong đó ghi nhận thành lập Nhà nước Hợp chủng quốc Hoa Kỳ theo thể chế Cộng hoà Tổng thống và tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập. Về cơ cấu lãnh thổ, Hoa kỳ là nhà nước liên bang.
Nội dung của bản hiến pháp 1787:
Hiến Pháp Hoa Kì được phân chia làm 2 nội dung chính đó là :
Sự phân chia quyền lực Nhà nước thông qua tổ chức hoạt động bộ máy Nhà Nước và các quyền tự nhiên của con người.
Mục đích của việc quy định hai nội dung trên là để giới hạn quyền lực Nhà Nước và bảo vệ các quyền tự nhiên của con người tránh sự lạm quyền từ phía các cơ quan Nhà Nước.
29/ Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước tư sản Mỹ sau cách mạng tư sản
Nhà nước Tư sản Mỹ là nhà nước Tư sản điển hình nhất của chính thể cộng hóa tổng thống. Ở chính thể này, tổng thông vừa là nguyên thủ Quốc gia, vừa là người đứng đầu cơ quan hành pháp. Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm trước tổng thống, không chịu trách nhiệm trước nghị viện, không thể bị nghị viện giải tán.
Hình thức cấu trúc của nhà nước Mĩ là nhà nước Liên bang, được tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập”
Gồm 3 cơ quan chính là Nghị viện, Tổng thống và Pháp viện tối cao
Nghị viện nắm giữ chức năng lập pháp, mọi quyền lập pháp đều thuộc nghị viện. Nghị viện bao gồm Thượng nghị viện và Hạ nghị viện. Thượng Nghị viện là cơ quan đại diện của các bang. Mỗi bang được bầu ra 2 thượng nghị sĩ. Hạ nghị viện là cơ quan dân biểu, gồm 435 nghị sĩ, nhiệm kì 2 năm. Chức năng quyền hạn của nghị viện Mỹ trên thực tế là kìm chế, đối trọng với các nhánh quyền lực khác, đặc biệt là quyền hành pháp. Nghị viện của Nhà nước tư sản Mỹ là nghị viện hoạt động có hiệu quả nhất và có quyền năng thực chất nhất.
Tổng thống là người nắm giữ quyền hành pháp, là người tuyệt đối quan trọng đối với nhà nước, là người duy nhất có quyền quản lý nhà nước. Có quyền thành lập Chính phủ, bổ nhiệm các quan chức nhà nước, nắm quyền quân sự và đối ngoại….
Pháp viện tối cao là cơ quan nắm giữ quyền tư pháp. Gồm 9 thẩm phán do Tổng thống bổ nhiệm và được sự chấp thuận của Nghị viện. Có quyền hạn tối cao về xét xử, xác định tính hợp hiến của bộ luật và giải thích pháp luật.

30/ Lý giải nguyên nhân nhà nước Mỹ tổ chức theo hình thức chính thể cộng hòa Tổng thống.
Chính phủ quốc gia lúc bấy giờ không có quân đội chung, 9 bang có quân đội riêng và một số bang khác lại có hải quân riêng, tồn tại rất nhiều loại tiền, cả tiền xu lẫn tiền giấy, của cả liên bang và tiểu bang. ( sự không thống nhất tiền tệ và không có quân đội chung)
Sự kết thúc chiến tranh đã để lại hậu quả nghiêm trọng đối với các nhà buôn, những người đã cung cấp vũ khí và hàng hóa cho quân đội, họ đã mất đi những lợi thế có được,các chính sách thuế quan ở các bang có mâu thuẫn với nhau. (Các nhà buôn bị mất quyền lợi => kinh tế chậm phát triển)
Một chính quyền trung ương yếu kém, bị bó buộc trong ngoại giao với các nước khác.Hậu quả là một sự hỗn độn thực sự. (Bị nước ngoài bó buộc bởi quân sự)
Trong bối cảnh đó nảy sinh nhu cầu phải có một chính phủ trung ương mạnh hơn để thực thi một chính sách thống nhất.
Họ rất thận trọng với việc tập trung quyền lực cho 1 tổ chức hay cá nhân nào đó*.
Tư tưởng chủ đạo của những nhà lập Hiến pháp Hoa Kỳ là rất cần đến một nhà nước đủ mạnh để bảo vệ sự độc lập, phát triển kinh tế, duy trì an ninh quốc gia, nhưng cũng rất sợ sự tập trung quyền lực có thể trở thành sự chuyên chế của nhà nước. Với họ, Chính phủ hành pháp chỉ cần một cá nhân, với Quốc hội lập pháp, mặc dù là tập thể đông người bao gồm những đại diện do nhân dân bầu ra, nhưng rất có thể trở thành độc tài. Mà hậu quả độc tài của tập thể đông người cũng có tác hại không khác gì chế độ độc tài chuyên chế cá nhân của các vị vua chúa phong kiến Châu Âu. (Cẩn trọng với việc tập trung quyền lực)
Bên cạnh những nhu cầu khách quan, việc hình thành một cách thức tổ chức quyền lực nhà nước cũng bị ảnh hưởng bởi ý muốn chủ quan của những người sáng lập ra nước Mỹ, do nhu cầu của việc rút kinh nghiệm từ những bài học của lịch sử nhân loại. Các nhà lập quốc của Mỹ cho rằng, Quốc hội mặc dù là một tập thể đông người nhưng cũng không là gì cả, cũng có khi làm sai và nhất là có thể trở thành độc tài. Do đó, cần phải nghĩ ra các biện pháp nhằm kìm chế Quốc hội.
=> Từ tất cả các nguyên nhân trên mà chính thể cộng hòa tổng thống ra đời.

v\:* {behavior:url(#default#VML);}
o\:* {behavior:url(#default#VML);}
w\:* {behavior:url(#default#VML);}
.shape {behavior:url(#default#VML);}

 

 

Nhà Tây Chu

(TK12-771TCN)

Nhà Thương (TK16-TK12TCN)

Nhà Đông Chu

(771-221TCN)

Thời kỳ Xuân Thu-Chiến Quốc

Nhà Hạ (TK 21-16 TCN)

             

Normal
0
false

false
false
false

EN-US
X-NONE
X-NONE

/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-priority:99;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;
mso-para-margin-top:0in;
mso-para-margin-right:0in;
mso-para-margin-bottom:10.0pt;
mso-para-margin-left:0in;
line-height:115%;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:11.0pt;
font-family:”Calibri”,”sans-serif”;
mso-ascii-font-family:Calibri;
mso-ascii-theme-font:minor-latin;
mso-hansi-font-family:Calibri;
mso-hansi-theme-font:minor-latin;}

Posted in Lịch sử NN & PL thế giới

CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM LOGIC

CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
1. Đối tượng của lôgích học là gì? D
A) Nhận thức.
B) Tính chân lý của tư tưởng.
C) Tư duy.
D) Kết cấu và quy luật của tư duy.
2. Tư duy có những đặc tính nào? D
A) Cụ thể, sinh động, trừu tượng, khái quát,
B) Gián tiếp, năng động – sáng tạo, sinh động và sâu sắc.
C) Trực tiếp, liên hệ với ngôn ngữ, trừu tượng, khái quát, sâu sắc.
D) Gián tiếp, năng động – sáng tạo, trừu tượng, khái quát, sâu sắc.
3. Mệnh đề nào sau đây đúng? A
A) Tư duy càng trừu tượng thì càng khái quát.
B) Tư duy càng trừu tượng thì càng chính xác.
C) Tư duy càng khái quát thì càng gián tiếp và đúng đắn.
D) Tư duy càng khái quát thì càng gián tiếp, càng trừu tượng, càng đúng đắn, càng năng động – sáng tạo.
4. Hình thức tư duy, kết cấu lôgích của tư tưởng là gì? C
A) Những cái tiên nghiệm.
B) Hai cái hoàn toàn khác nhau.
C) Một bộ phận của nội dung tư tưởng.
D) Những sơ đồ, công thức, ký hiệu do con người đặt ra để dễ dàng diễn đạt nội dung tư tưởng.
5. Bổ sung để có một câu đúng của V.I.Lênin: “Những hình thức lôgích và những quy luật lôgích không phải là cái vỏ trống rỗng mà là . . . của thế giới khách quan”. C
A) sản phẩm.
B) công cụ nhận thức.
C) phản ánh.
D) nguồn gốc.
6. Quy luật tư duy (quy luật lôgích của tư tưởng) là gì? D
A) Mối liên hệ bản chất, tất yếu, khách quan giữa các tư tưởng.
B) Cái chi phối các kết cấu của tư tưởng để đảm bảo cho tư tưởng phản ánh đúng đối tượng được tư tưởng.
C) Các yêu cầu đối với tư duy để tư duy phù hợp với hiện thực.
D) A), B), C) đều đúng.
7. Từ “lôgích” trong tiếng Việt có nghĩa là gì? D
A) Mối liên hệ mang tính tất yếu giữa các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.
B) Mối liên hệ mang tính tất yếu giữa những ý nghĩ, tư tưởng trong hiện thực chủ quan.
C) Lôgích học.
D) A), B), C) đều đúng.
8. Lôgích học là gì? B
A) Khoa học về tư duy.
B) Môn học nghiên cứu các hình thức và quy luật của tư duy.
C) Môn học nhằm làm trong sáng đầu óc.
D) Khoa học vạch ra sự phù hợp của tư tưởng với tư tưởng.
9. Bổ sung từ còn thiếu để có một câu đúng: “Vấn đề về tính chân lý của tư duy là vấn đề . . .”. A
A) cơ bản của Lôgích học.
B) nói về sự phù hợp của tư tưởng với thực tại.
C) nói về sự phù hợp của tư tưởng với tư tưởng.
D) cơ bản của mọi hoạt động nhận thức của con người.
10. Nhiệm vụ của lôgích học là gì? D
A) Vạch ra các hình thức và quy luật của tư duy lôgích.
B) Vạch ra các hình thức và quy luật của tư duy biện chứng.
C) Vạch ra tính chân lý của tư tưởng.
D) Vạch ra các kết cấu của tư tưởng, các sơ đồ của lập luận, các quy tắc, phương pháp chi phối chúng…
11. Bổ sung từ còn thiếu để có một câu đúng: “Lôgích học (LG) được chia thành . . .” D
A) LG biện chứng, LG hình thức và LG toán.
B) LG lưỡng trị, LG đa trị và LG mờ.
C) LG cổ điển và LG phi cổ điển.
D) A), B), C) đều đúng.
12. Khi khảo sát một tư tưởng, lôgích hình thức chủ yếu làm gì? A
A) Chỉ để ý đến hình thức của tư tưởng.
B) Chỉ để ý đến nội dung của tư tưởng.
C) Vừa để ý đến nội dung, vừa để ý đến hình thức của tư tưởng.
D) Tuỳ từng trường hợp mà để ý đến nội dung, hình thức hay để ý đến cả hai.
13. Quy luật đồng nhất phản ánh điều gì trong hiện thực? A
A) Sự đứng im tương đối, sự ổn định về chất của đối tượng được tư tưởng.
B) Sự đồng nhất tư tưởng với đối tượng được tư tưởng.
C) Tính bất biến của đối tượng được tư tưởng.
D) Cả A), B) và C).
14. Quy luật lý do đầy đủ phản ánh điều gì trong hiện thực? D
A) Tính chứng minh được của tư tưởng.
B) Mối liên hệ phổ biến của sự vật, hiện tượng.
C) Mối liên hệ nhân quả chi phối giữa các đối tượng được tư tưởng.
D) Cơ sở dẫn tới sự đứng im tương đối, sự ổn định về chất của đối tượng được tư tưởng.
15. “Hai tư tưởng trái ngược nhau không cùng đúng” là phát biểu của quy luật (QL) nào? B
A) QL Loại trừ cái thứ ba.
B) QL Phi mâu thuẫn.
C) QL Đồng nhất.
D) QL Lý do đầy đủ.
16. Mệnh đề “Hai tư tưởng (TT) không cùng đúng” tương đương lôgích với mệnh đề nào? B
A) Hai TT không thể cùng sai.
B) Hai TT, trong đó, nếu TT này đúng thì TT còn lại sai.
C) Hai TT, trong đó, nếu TT này sai thì TT còn lại đúng.
D) Hai TT, trong đó, nếu TT này đúng thì TT kia sai, và nếu TT này sai thì TT kia đúng.
17. “Hai tư tưởng mâu thuẫn nhau không thể đồng thời cùng đúng, cùng sai” là phát biểu của quy luật nào? B
A) QL Phi mâu thuẫn.
B) QL Loại trừ cái thứ ba.
C) QL Đồng nhất.
D) QL Lý do đầy đủ.
18. Nếu a là một tư tưởng thì mệnh đề “Một tư tưởng không thể đồng thời có hai giá trị lôgích trái ngược nhau” được kí hiệu như thế nào? A
A) ~(a Ù ~a).
B) ~(a Ú ~a).
C) a Ú ~a.
D) ~a Ù a.
19. Nếu a là một tư tưởng thì mệnh đề “Một tư tưởng chỉ có một giá trị lôgích xác định hoặc là đúng hoặc là sai chứ không có khả năng thứ ba” được ký hiệu như thế nào? C
A) ~(a Ù ~a).
B) ~(a Ú ~a).
C) a Ú ~a.
D) ~a Ù a.
20. Quy luật phi mâu thuẫn còn được phát biểu như thế nào trong lịch sử lôgích học? B
A) Một sự vật là chính nó.
B) Một sự vật không thể vừa là nó vừa không phải là nó.
C) Một sự vật có thể thế này nhưng cũng có thể thế khác.
D) Một sự vật hoặc có hoặc không có, chứ không thể có trường hợp thứ ba.
21. Quy luật loại trừ cái thứ ba còn được phát biểu như thế nào trong lịch sử Lôgích học? D
A) Một sự vật là chính nó.
B) Một sự vật không thể vừa là nó vừa không phải là nó.
C) Một sự vật có thể thế này nhưng cũng có thể thế khác.
D) Một sự vật hoặc có hoặc không có, chứ không thể có trường hợp thứ ba.
22. Quy luật phi mâu thuẫn là cơ sở của thao tác lôgích nào? A
A) Phép bác bỏ gián tiếp.
B) Phép bác bỏ trực tiếp.
C) Phép chứng minh phản chứng.
D) Phép chứng minh loại trừ.
23. Tư tưởng “Có thương thì nói là thương. Không thương thì nói một đường cho xong” bị chi phối bởi quy luật gì? B
A) QL phi mâu thuẫn.
B) QL loại trừ cái thứ ba.
C) QL đồng nhất.
D) QL lý do đầy đủ.
24. Những quy luật nào làm cho tư duy mang tính hình thức? C
A) QL đồng nhất.
B) QL phi mâu thuẫn và QL loại trừ cái thứ ba.
C) QL đồng nhất, QL phi mâu thuẫn và QL loại trừ cái thứ ba.
D) QL lý do đầy đủ, QL đồng nhất, QL phi mâu thuẫn và QL loại trừ cái thứ ba.
25. Quy luật đồng nhất đảm bảo cho tư duy có được tính chất gì? D
A) Tính không bị xuyên tạc hay đánh tráo mệnh đề.
B) Không sa vào mâu thuẫn.
C) Sử dụng ngôn ngữ đầy hình tượng và chính xác.
D) Tính xác định chính xác, rõ ràng rành mạch.
26. Quy luật đồng nhất là quy luật cơ bản của môn học nào? C
A) Siêu hình học và khoa học lý thuyết.
B) Lôgích học biện chứng và lôgích học hình thức.
C) Lôgích học hình thức.
D) Nhận thức luận và siêu hình học.
27. Trong lôgích học, thuật ngữ “đồng nhất trừu tượng” được hiểu như thế nào? C
A) Sự bất biến của sự vật trong hiện thực.
B) Sự giống nhau hoàn toàn của tư tưởng về đối tượng với đối tượng tư tưởng .
C) Đồng nhất các phẩm chất xác định của đối tượng tư tưởng được phản ánh trong tư duy với bản thân đối tượng tư tưởng trong hiện thực.
D) A), B), C) đều đúng.
28. “Không được thay đổi đối tượng tư tưởng; tư tưởng lập lại phải giống tư tưởng ban đầu; ngôn ngữ diễn đạt tư tưởng phải chính xác” là yêu cầu của quy luật nào? B
A) QL lý do đầy đủ.
B) QL đồng nhất.
C) QL phi mâu thuẫn.
D) QL loại trừ cái thứ ba.
29. Cặp phán đoán ”Người VN yêu nước” và “Vài người VN không yêu nước” bị chi phối trực tiếp bởi quy luật nào? B
A) QL phi mâu thuẫn.
B) QL loại trừ cái thứ ba.
C) QL loại trừ cái thứ ba và QL đồng nhất.
D) QL loại trừ cái thứ ba, QL đồng nhất và QL phi mâu thuẫn.
30. Cặp phán đoán “Người VN yêu nước” và “Người VN không yêu nước” bị chi phối trực tiếp bởi quy luật nào? D
A) QL phi mâu thuẫn.
B) QL loại trừ cái thứ ba.
C) QL loại trừ cái thứ ba và QL lý do đầy đủ.
D) QL trừ cái thứ ba và QL phi mâu thuẫn.
31. Cơ sở của phép chứng minh phản chứng là quy luật nào? D
A) QL phi mâu thuẫn.
B) QL loại trừ cái thứ ba và QL đồng nhất.
C) QL loại trừ cái thứ ba và QL lý do đầy đủ.
D) QL loại trừ cái thứ ba và QL phi mâu thuẫn.
32. Quy luật loại trừ cái thứ ba và quy luật phi mâu thuẫn đảm bảo cho tư duy có được tính chất gì ?
A) Tính xác định chính xác, rõ ràng rành mạch.
B) Tính có căn cứ, được luận chứng, xác minh, chứng minh.
C) Tính phi mâu thuẫn; tính có căn cứ, được luận chứng, xác minh, chứng minh.
D) Tính phi mâu thuẫn, liên tục, nhất quán. D
33. Quy luật lý do đầy đủ đảm bảo cho tư duy có được tính chất gì? B
A) Tính xác định chính xác, tính rõ ràng rành mạch.
B) Tính có căn cứ, được luận chứng, xác minh.
C) Tính phi mâu thuẫn; tính có căn cứ, được luận chứng, xác minh.
D) Tính phi mâu thuẫn, liên tục, nhất quán; tính chính xác, rõ ràng.
34. Mâu thuẫn (MT) nào xuất hiện một cách chủ quan, thể hiện dưới dạng cặp phán đoán trái ngược nhau và làm bế tắt tiến trình tư duy? D
A) MT biện chứng.
B) MT của nhận thức.
C) MT của tư duy.
D) MT lôgích.
35. Mâu thuẫn (MT) nào xuất hiện một cách khách quan, dưới dạng thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, có vai trò là nguồn gốc, động lực của mọi sự vận động, phát triển diễn ra trong thế giới?
A) MT xã hội.
B) MT tư duy.
C) MT tự nhiên. C
D) Cả A), B) và C).
36. Sử dụng từ ngữ một cách mập mờ, để sau đó có thể giải thích cùng một từ theo các cách khác nhau là vi phạm yêu cầu của quy luật (QL) nào? A
A) QL đồng nhất.
B) QL lý do đầy đủ.
C) QL không mâu thuẫn.
D) Không hề vi phạm các QL cơ bản của tư duy, tuy nhiên vi phạm quy tắc định nghĩa khái niệm.
37. Hình thức tư duy phản ánh những dấu hiệu bản chất của đối tượng tư tưởng được gọi là gì? B
A) Ý niệm.
B) Khái niệm.
C) Suy tưởng.
D) Phán đoán .
38. Lôgích học gọi toàn thể các dấu hiệu bản chất của đối tượng tư tưởng là gì? B
A) Ngoại diên khái niệm.
B) Nội hàm khái niệm.
C) Bản chất của khái niệm.
D) Khái niệm.
39. Lôgích học gọi toàn thể các phần tử có cùng dấu hiệu bản chất hợp thành đối tượng tư tưởng là gì?
A) Khái niệm.
B) Nội hàm khái niệm.
C) Bản chất của khái niệm.
D) A), B) và C) đều sai. D
40. Khái niệm bao gồm những bộ phận nào? C
A) Từ và ý.
B) Âm (ký hiệu) và nghĩa.
C) Nội hàm và ngoại diên.
D) Tất cả các yếu tố của A), B) và C)
41. Nội hàm (NH) và ngoại diên (ND) của khái niệm có quan hệ gì? B
A) NH càng sâu thì ND càng rộng, NH càng cạn thì ND càng hẹp.
B) NH càng cạn thì ND càng rộng, NH càng sâu thì ND càng hẹp.
C) NH càng rộng thì ND càng sâu, NH càng hẹp thì ND càng sâu.
D) NH càng hẹp thì ND càng cạn, NH càng rộng thì ND càng sâu.
42. Cách phân chia khái niệm (KN) nào sau đây đúng? A
A) KN thực và KN ảo.
B) KN chung và KN riêng.
C) KN riêng, KN vô hạn và KN hữu hạn.
D) A), B), C) đều đúng.
43. Khái niệm thực phản ánh điều gì? D
A) Dấu hiệu bản chất của đối tượng tư tưởng (ĐTTT).
B) Dấu hiệu chung của một lớp ĐTTT.
C) Dấu hiệu bản chất của một lớp ĐTTT.
D) A), B), C) đều đúng
44. Xét trong khái niệm “Con người”, thì “Đàn ông” và “Đàn bà” là 2 khái niệm có quan hệ gì? B
A) QH mâu thuẫn.
B) QH đối chọi.
C) QH giao nhau.
D) QH đồng nhất.
45. “Con người” và ”Sinh thể” là 2 khái niệm có quan hệ gì? D
A) QH giao nhau.
B) QH mâu thuẫn.
C) QH đồng nhất.
D) QH lệ thuộc.
46. Xác định quan hệ (QH) giữa 2 khái niệm, trong đó, nội hàm của chúng có dấu hiệu trái ngược nhau, còn ngoại diên của chúng chỉ là hai bộ phận khác nhau của ngoại diên một khái niệm thứ ba nào đó? C
A) QH mâu thuẫn.
B) QH đồng nhất.
C) QH đối chọi.
D) QH lệ thuộc.
47. Cặp khái niệm nào có quan hệ mâu thuẫn nhau? C
A) Đen – Trắng.
B) Đàn ông – Đàn bà.
C) Đỏ – Không đỏ.
D) A), B) và C) đều đúng.
48. Bổ sung để có một định nghĩa đúng: “Mở rộng khái niệm (KN) là thao tác lôgích . . .”. C
A) đi từ KN hạng sang KN loại
B) đi từ KN riêng sang KN chung
C) đi từ KN có nội hàm (NH) sâu, ngoại diên (ND) hẹp sang KN có NH cạn, ND rộng
D) đi từ KN có NH cạn, ND rộng sang KN có NH sâu, ND hẹp
49. Bổ sung để có một định nghĩa đúng: “Thu hẹp khái niệm (KN) là thao tác lôgích . . .”. D
A) Đi từ KN loại sang KN hạng.
B) Đi từ KN chung sang KN riêng.
C) Đi từ KN có nội hàm (NH) sâu, ngoại diên (ND) hẹp sang KN có NH cạn, ND rộng.
D) Đi từ KN có NH cạn ND rộng sang KN có NH sâu ND hẹp.
50. Mở rộng khái niệm (KN) có giới hạn cuối cùng là gì? B
A) KN đơn nhất.
B) Phạm trù.
C) KN vô hạn.
D) KN chung.
51. Thu hẹp khái niệm (KN) có giới hạn cuối cùng là gì? D
A) KN ảo.
B) Phạm trù.
C) KN cụ thể .
D) A), B) và C) đều sai.
52. Thao tác lôgích làm rõ nội hàm của khái niệm (KN) được gọi là gì? C
A) Mở rộng và thu hẹp KN.
B) Phân chia KN.
C) Định nghĩa KN.
D) Phân chia và định nghĩa KN.
53. Muốn định nghĩa khái niệm (KN) đúng, thì KN định nghĩa và KN dùng để định nghĩa phải có quan hệ gì? C
A) QH giao nhau.
B) QH lệ thuộc.
C) QH đồng nhất.
D) QH đồng nhất và lệ thuộc.
54. Định nghĩa khái niệm đúng khi nào? B
A) Cân đối, rõ ràng, liên tục, nhất quán.
B) Cân đối, chính xác, rõ ràng.
C) Không thừa, không thiếu, không luẩn quẩn, liên tục, nhất quán.
D) Không thừa, không thiếu, không luẩn quẩn, rõ ràng, nhất quán.
55. Định nghĩa khái niệm cân đối khi nào? C
A) Không luẩn quẩn, không mơ hồ, không phủ định.
B) Không rộng, không hẹp, không mơ hồ.
C) Không rộng, không hẹp.
D) A), B), C) đều đúng.
56. Định nghĩa khái niệm rõ ràng khi nào? A
A) Không luẩn quẩn, không phủ định, không mơ hồ.
B) Không rộng, không hẹp, không mơ hồ.
C) Không rộng, không hẹp.
D) A), B), C) đều đúng.
57. Có thể định nghĩa “Con người là thước đo của vạn vật” được không? C
A) Được, vì đề cao con người.
B) Không được, vì ý tưởng hay nhưng không chuẩn xác.
C) Không, vì không xác định rõ nội hàm khái niệm “con người”.
D) Không, vì không thể coi con người là thước đo của vạn vật được.
58. Phân chia khái niệm (KN) là thao tác gì? B
A) Liệt kê các KN lệ thuộc trong KN được lệ thuộc.
B) Vạch ra các KN cấp hạng trong KN cấp loại được phân chia.
C) Làm rõ ngoại diên KN được phân chia.
D) Làm rõ nội hàm KN được phân chia.
59. Phân chia khái niệm cân đối khi nào? C
A) Nhất quán, không vượt cấp.
B) Không vượt cấp, các khái niệm thành phần loại trừ nhau.
C) Không thừa, không thiếu.
D) Không thừa, không thiếu, không vượt cấp, các khái niệm thành phần loại trừ nhau.
60. Phân chia khái niệm đúng khi nào? D
A) Cân đối và nhất quán.
B) Cân đối, ngắn gọn, rõ ràng.
C) Không thừa, không thiếu, nhất quán, liên tục.
D) Cân đối, nhất quán, các thành phần phân chia loại trừ nhau và liên tục.
61. Bổ sung để được một định nghĩa đúng: “Phân đôi khái niệm (KN) là phân chia KN ra thành 2 KN có quan hệ . . . nhau”. C
A) tương phản
B) tương đương
C) mâu thuẫn
D) Cả A) và C).
62. Chia “Thành phố” ra thành “Quận/Huyện”, “Phường/Xã”, … là thao tác gì? C
A) Phân đôi.
B) Phân loại.
C) Phân tích.
D) A), B), C) đều sai.
63. Phân chia khái niệm (KN) theo sự biến đổi dấu hiệu là gì? B
A) Thao tác vạch ra ngoại diên của KN được phân chia.
B) Thao tác chia KN cấp loại ra thành các KN cấp hạng của nó.
C) Thao tác chia chỉnh thể ra thành các bộ phận của nó.
D) A), B) và C) đều đúng.
64. “X là một số nguyên tố” là gì? B
A) Một mệnh đề.
B) Một câu.
C) Một phán đoán.
D) A), B), C) đều đúng.
65. “Có lẽ hôm nay sinh viên lớp ta đang thi môn Lôgích học” là phán đoán gì? D
A) PĐ đặc tính.
B) PĐ thời gian.
C) PĐ tình thái.
D) Cả A), B) và C).
66. “Hầu hết sinh viên lớp ta đều dự thi môn Lôgích học” là phán đoán gì? A
A) PĐ bộ phận.
B) PĐ toàn thể.
C) PĐ toàn thể – khẳng định.
D) PĐ tình thái – khẳng định.
67. Hãy xác định chủ từ (S) và vị từ (P) của phán đoán: “Tôi biết rằng anh ta rất tốt”. B
A) S = Tôi ; P = biết rằng anh ta rất tốt.
B) S = Tôi ; P = anh ta rất tốt.
C) S = Tôi biết rằng ; P = anh ta tốt.
D) S = Tôi ; P = anh ta.
68. “Đôi khi chuồn chuồn bay thấp mà trời không mưa” là phán đoán dạng nào? D
A) A.
B) I.
C) E.
D) O.
69. “Hầu hết người Việt Nam đều là người yêu nước” và “Không có chuyện mọi người Việt Nam đều là người yêu nước” là hai phán đoán có quan hệ gì? A
A) QH mâu thuẫn.
B) QH lệ thuộc.
C) QH tương phản trên.
D) QH tương phản dưới.
70. Hãy xác định tính chu diên của chủ từ (S) và vị từ (P) trong phán đoán “Sinh viên lớp ta học giỏi môn lôgích học”. B
A) S+ ; P+
B) S+ ; P-
C) S- ; P+
D) S- ; P-
71. Hãy xác định tính chu diên của chủ từ (S) và vị từ (P) trong phán đoán “Người cộng sản không là kẻ bóc lột”. A
A) S+ ; P+
B) S+ ; P-
C) S- ; P+
D) S- ; P-
72. Hãy xác định tính chu diên của chủ từ (S) và vị từ (P) trong phán đoán “Hầu hết người Việt Nam đều là người yêu nước”. D
A) S+ ; P+
B) S+ ; P-
C) S- ; P+
D) S- ; P-
73. Hãy xác định tính chu diên của chủ từ (S) và vị từ (P) trong phán đoán “Tam giác là hình có 3 cạnh”. A
A) S+ ; P+
B) S+ ; P-
C) S- ; P+
D) S- ; P-
74. Hãy xác định tính chu diên của chủ từ (S) và vị từ (P) trong phán đoán “Vài người tốt nghiệp trung học là sinh viên”. C
A) S+ ; P+
B) S+ ; P-
C) S- ; P+
D) S- ; P-
75. Dựa theo hình vuông lôgích, sơ đồ nào thể hiện quan hệ lệ thuộc? D
A) A ® I ; ~I ® A.
B) A ® I ; I ® ~A.
C) O ® ~E ; E ® O.
D) ~I ® ~A ; E ® O.
76. Dựa theo hình vuông lôgích, sơ đồ nào thể hiện quan hệ lệ thuộc? B
A) A ® I ; I? ® A.
B) A ® I ; I ® A?.
C) O ® ~E ; E ® O.
D) ~I ® ~A ; E ® O?.
77. Dựa theo hình vuông lôgích, sơ đồ nào thể hiện quan hệ mâu thuẫn? B
A) A « O ; ~I « ~E.
B) A « ~O ; O « ~A.
C) A « ~E ; E « ~A.
D) ~I « E? ; ~O « A?.
78. Dựa theo hình vuông lôgích, sơ đồ nào thể hiện quan hệ tương phản trên? C
A) A ® E ; ~E ® ~A.
B) A « ~E ; E « ~A.
C) A ® ~E ; ~E ® A?.
D) ~A ® E ; ~E ® A?.
79. Dựa theo hình vuông lôgích, sơ đồ nào thể hiện quan hệ tương phản dưới? D
A) O ® I ; ~I ® ~O.
B) I « ~O ; O « ~I.
C) I ® O? ; ~I ® O?.
D) ~I ® O ; O ® I?.
80. Dựa theo hình vuông lôgích, sơ đồ nào thể hiện quan hệ mâu thuẫn? B
A) A ® O ; ~I ® ~E.
B) A « ~O ; O ® ~A.
C) A ® ~E ; O « ~A.
D) ~I « E? ; ~O « A?.
81. Dựa theo hình vuông lôgích, sơ đồ nào thể hiện quan hệ tương phản trên? D
A) A? ® E ; ~E ® A.
B) A « ~E ; E « ~A.
C) A ® E ; ~E ® A?.
D) ~A ® E? ; ~E ® A?.
82. Dựa theo hình vuông lôgích, sơ đồ nào thể hiện quan hệ tương phản dưới? A
A) O ® I? ; ~I ® O.
B) I « ~O ; O « ~I.
C) I ® O? ; ~I ® ~O.
D) ~I ® O? ; O ® I?.
83. Xét về cấu trúc của khái niệm, mệnh đề nào sau đây sai? B
A) Đồng nhất về nội hàm thì cũng đồng nhất về ngoại diên.
B) Đồng nhất về ngoại diên thì cũng đồng nhất về nội hàm.
C) Một khái niệm có thể có nhiều nội hàm khác nhau.
D) Khái niệm bao gồm nội hàm và ngoại diên, còn từ bao gồm ký (tín) hiệu và nghĩa.
84. Mệnh đề nào sau đây đúng? D
A) Điều kiện cần và đủ để PĐLK sai là các PĐTP cùng sai.
B) Muốn PĐLK đúng chỉ cần một PĐTP đúng là đủ.
C) PĐLK sai khi và chỉ khi các PĐTP cùng sai.
D) Phán đoán liên kết (PĐLK) đúng khi các phán đoán thành phần (PĐTP) đều cùng đúng.
85. Mệnh đề nào sau đây đúng? A
A) Điều kiện cần và đủ để PĐLCLH sai là các PĐTP cùng sai.
B) PĐLCLH đúng khi và chỉ khi có một PĐTP đúng.
C) PĐLCLH sai khi và chỉ khi các PĐTP cùng đúng.
D) Phán đoán lựa chọn liên hợp (PĐLCLH) đúng khi các phán đoán thành phần (PĐTP) cùng đúng.
86. Mệnh đề nào sau đây đúng? B
A) Điều kiện cần và đủ để PĐLCGB sai là các PĐTP cùng sai.
B) PĐLCGB đúng khi và chỉ khi có một PĐTP đúng.
C) PĐLCGB sai khi và chỉ khi các PĐTP cùng sai.
D) Phán đoán lựa chọn gạt bỏ (PĐLCGB) đúng khi các phán đoán thành phần (PĐTP) cùng đúng.
87. Mệnh đề nào sau đây đúng? B
A) Phán đoán kéo theo (PĐKT) sai khi và chỉ khi hậu từ sai.
B) PĐKT sai khi tiền từ đúng và hậu từ sai.
C) Muốn PĐKT đúng thì tiền từ phải đúng và hậu từ phải sai
D) PĐKT đúng khi và chỉ khi tiền từ và hậu từ có cùng giá trị lôgích.
88. “Lý luận và thực hành phải đi đôi với nhau” là phán đoán gì? D
A) PĐ liên kết.
B) PĐ lưạ chọn.
C) PĐ kéo theo.
D) A), B) và C) đều sai.
89. “Hai đường thẳng đồng phẳng song song với nhau thì chúng không cắt nhau” là phán đoán gì?
A) PĐ liên kết.
B) PĐ kéo theo.
C) PĐ kéo theo kép. C
D) PĐ lựa chọn gạt bỏ.
90. Nếu phán đoán P ® Q đúng thì mệnh đề nào sau đây cũng đúng? D
A) P là điều kiện cần của Q.
B) Q là điều kiện đủ của P.
C) P là điều kiện cần và đủ của Q.
D) P là điều kiện đủ của Q.
91. Nếu phán đoán ~P ® ~Q đúng thì mệnh đề nào sau đây cũng đúng? A
A) P là điều kiện cần của Q.
B) Q là điều kiện cần của P.
C) P là điều kiện cần và đủ của Q.
D) P là điều kiện đủ của Q.
92. Nếu phán đoán P « Q đúng thì mệnh đề nào sau đây cũng đúng? A
A) P, Q là điều kiện cần và đủ của nhau.
B) P là điều kiện đủ của Q.
C) P là điều kiện cần của Q.
D) Q là điều kiện cần của P.
93. Tìm phán đoán tương đương lôgích với: ~a ® b. D
A) ~b ® ~a.
B) a ® ~b.
C) ~a ® ~b.
D) ~b ® a.
94. Tìm phán đoán tương đương lôgích với: a ® ~b. A
A) ~[a Ù b].
B) ~a Ù ~b.
C) ~[~a Ù ~b].
D) a Ú b.
95. Tìm phán đoán nào tương đương lôgích với: ~a ® b. D
A) ~a Ú b.
B) ~a Ù b.
C) a Ù b.
D) a Ú b.
96. Loại suy luận hợp lôgích nào đảm bảo chắc chắn kết luận xác thực nếu có các tiền đề xác thực?
A) Suy luận diễn dịch. A
B) Suy luận quy nạp.
C) Suy luận tương tự.
D) Cả A), B) và C).
97. Từ phán đoán “Một số sinh viên học giỏi lôgích học”, bằng phép đổi chất kết luận được rút ra là gì?
A) Số sinh viên còn lại học không giỏi lôgích học.
B) Một số người học giỏi lôgích học là sinh viên.
C) Không phải mọi sinh viên đều không phải là người không học giỏi lôgích.
D) Không thực hiện phép đổi chất được.
98. Thao tác lôgích đi từ một hay vài tiền đề có quan hệ lôgích với nhau để rút ra một kết luận được gọi là gì? C
A) Diễn dịch trực tiếp.
B) Quy nạp hoàn toàn.
C) Suy luận.
D) Suy luận gián tiếp.
99. Thao tác lôgích đi từ 1 tiền đề để rút ra 1 kết luận được gọi là gì? A
A) Diễn dịch trực tiếp.
B) Suy luận gián tiếp.
C) Quy nạp khoa học.
D) A), B), C) đều sai.
100. Thao tác lôgích đi từ 2 tiền đề có quan hệ lôgích với nhau để rút ra một phán đoán mới làm kết luận được gọi là gì? D
A) Diễn dịch trực tiếp.
B) Quy nạp hoàn toàn.
C) Suy luận gián tiếp.
D) A), B), C) đều sai.
101. Các yếu tố lôgích của suy luận là gì? D
A) Đại tiền đề, tiểu tiền đề và kết luận.
B) Tiền từ, hậu từ và liên từ lôgích.
C) Chủ từ, vị từ, hệ từ và lượng từ.
D) Tiền đề, kết luận và cơ sở lôgích.
102. Thế nào là suy luận hợp lôgích? A
A) SL tuân thủ mọi quy tắc lôgích hình thức.
B) SL từ tiền đề đúng và tuân thủ mọi quy tắc lôgích.
C) SL luôn đưa đến kết luận xác thực.
D) SL có lý nhưng luôn đưa đến kết luận sai lầm.
103. Thế nào là suy luận đúng? C
A) Suy luận hợp lôgích.
B) Suy luận đưa đến kết luận đúng.
C) Suy luận hợp lôgích và xuất phát từ mọi tiền đề đều xác thực.
D) A), B), C) đều đúng.
104. Thao tác lôgích đi từ tiền đề là 1 phán đoán dạng A, E, I, O để rút ra kết luận cũng là 1 phán đoán dạng trên cùng chất, nhưng có vị từ và chủ từ đổi chỗ cho nhau được gọi là gì? C
A) Diễn dịch trực tiếp.
B) Phép đổi chất.
C) Phép đổi chỗ.
D) Suy luận theo hình vuông lôgích.
105. Theo phép đổi chỗ, nếu tiền đề là A thì kết luận hợp lôgích là gì? D
A) A.
B) I.
C) E.
D) A hay I.
106. Theo phép đổi chỗ, nếu tiền đề là I thì kết luận hợp lôgích là gì? D
A) A.
B) I hay A.
C) E.
D) I.
107. Theo phép đổi chỗ, nếu tiền đề là E thì kết luận hợp lôgích là gì? C
A) A.
B) I.
C) E hay O.
D) A hay I.
108. Theo phép đổi chỗ, nếu tiền đề là O thì kết luận hợp lôgích là gì? D
A) A hay I.
B) I.
C) E hay O.
D) Cả A), B) và C) đều sai.
109. Thao tác lôgích đi từ tiền đề là 1 phán đoán dạng A, E, I, O để rút ra kết luận cũng là 1 phán đoán dạng trên cùng lượng cùng chủ từ, nhưng khác chất và có vị từ là khái niệm mâu thuẫn với khái niệm đóng vai trò vị từ của tiền đề được gọi là gì? B
A) Diễn dịch trực tiếp.
B) Phép đổi chất.
C) Phép đổi chỗ.
D) Suy luận theo hình vuông lôgích.
110. Nếu tiền đề là A, dựa theo phép đổi chất, kết luận hợp lôgích là gì? C
A) A.
B) I.
C) E hay O.
D) A hay I.
111. Nếu tiền đề là I, dựa theo phép đổi chất, kết luận hợp lôgích là gì? B
A) A.
B) O.
C) E.
D) E hay I.
112. Nếu tiền đề là E, dựa theo phép đổi chất, kết luận hợp lôgích là gì? D
A) A.
B) I.
C) E.
D) A hay I.
113. Nếu tiền đề là O, dựa theo phép đổi chất, kết luận hợp lôgích là gì? B
A) A.
B) I.
C) E.
D) A hay I.
114. Thao tác lôgích đi từ tiền đề là 1 phán đoán dạng A, E, I, O để rút ra kết luận cũng là 1 phán đoán dạng trên, khác chất, có chủ từ là khái niệm mâu thuẫn với khái niệm đóng vai trò vị từ của tiền đề và vị từ là khái niệm đóng vai trò chủ từ của tiền đề được gọi là gì? D
A) Diễn dịch trực tiếp.
B) Phép đổi chất.
C) Phép đổi chỗ.
D) Phép đổi chất và đổi chỗ.
115. Nếu tiền đề là A, dựa theo phép đổi chất và đổi chỗ, kết luận hợp lôgích là gì? C
A) A.
B) I.
C) E hay O.
D) A hay I.
116. Nếu tiền đề là I, dựa theo phép đổi chất và đổi chỗ, kết luận hợp lôgích là gì? d
A) A.
B) O.
C) E.
D) A), B), C) đều sai.
117. Nếu tiền đề là E, dựa theo phép đổi chất và đổi chỗ, kết luận hợp lôgích là gì? b
A) A.
B) I.
C) E.
D) A hay I.
118. Nếu tiền đề là O, dựa theo phép đổi chất và đổi chỗ, kết luận hợp lôgích là gì? b
A) A.
B) I.
C) E.
D) Không thực hiện được.
119. Dựa theo quan hệ gì của hình vuông lôgích ta có sơ đồ suy luận: A ® ~E ; E ® ~A ? b
A) Mâu thuẫn.
B) Tương phản trên.
C) Tương phản dưới.
D) Lệ thuộc.
120. Dựa theo quan hệ gì của hình vuông lôgích ta có sơ đồ suy luận: ~O ® I ; ~I ® O ? C
A) Mâu thuẫn.
B) Tương phản trên.
C) Tương phản dưới.
D) Lệ thuộc.
121. Dựa theo quan hệ gì của hình vuông lôgích ta có sơ đồ suy luận: A « ~O ; E « ~ I ? A
A) Mâu thuẫn.
B) Tương phản trên.
C) Tương phản dưới.
D) Lệ thuộc.
122. Dựa theo quan hệ gì của hình vuông lôgích ta có sơ đồ suy luận: A ® I ; ~O ® ~E ? D
A) Mâu thuẫn.
B) Tương phản trên.
C) Tương phản dưới.
D) Lệ thuộc.
123. Từ tiền đề “Có những sinh viên nghiên cứu khoa học rất giỏi”, bằng phép đổi chỗ, kết luận hợp lôgích được rút ra là gì? D
A) Có những sinh viên không biết nghiên cứu khoa học.
B) Có những sinh viên nghiên cứu khoa học rất dở.
C) Không phải tất cả sinh viên đều nghiên cứu khoa học dở.
D) Có những người nghiên cứu khoa học rất giỏi là sinh viên.
124. Từ tiền đề “Có loài côn trùng không có hại”, bằng phép đổi chỗ, kết luận hợp lôgích được rút ra là gì? D
A) Một số loài không có hại là côn trùng.
B) Những loài côn trùng khác có hại.
C) Không phải tất cả các loài côn trùng đều có hại.
D) Không thực hiện được.
125. Phán đoán nào tương đương với phán đoán “Nếu ông ấy không tham ô thì ông ấy không bị cách chức và cũng không bị truy tố”? A
A) Nếu ông ấy bị truy tố hay bị cách chức thì ông ấy đã tham ô.
B) Nếu ông ấy tham ô thì ông ấy bị cách chức và bị truy tố.
C) Nếu ông ấy tham ô thì ông ấy bị cách chức hay bị truy tố.
D) Vẫn có chuyện ông ấy tham ô mà không bị cách chức.
126. Điều kiện đủ để xây dựng được một suy luận diễn dịch trực tiếp hợp lôgích là gì? C
A) Tiền đề và kết luận phải là 2 PĐ có chủ từ và vị từ giống nhau.
B) Tiền đề và kết luận phải là 2 PĐ có quan hệ đồng nhất nhau.
C) Tiền đề và kết luận phải là 2 PĐ có các thành phần giống nhau.
D) Kết luận phải là PĐ lệ thuộc vào PĐ tiền đề.
127. Kiểu suy luận nào đúng? C
A) [a ® ~b] Þ [~b ® a].
B) [~a ® b] Þ [~b ® ~a].
C) [~b ® a] Þ [~a ® b].
D) [a ® b] Þ [~b ® a].
128. Kiểu suy luận nào đúng? D
A) [a ® ~b] Þ [~a Ù ~b].
B) [~a ® b] Þ [b ® a].
C) [~a ® b] Þ [~a ® ~b].
D) [a ® ~b] Þ ~{a Ù b}.
129. Kiểu suy luận nào đúng? D
A) [a ® ~b] Þ [~b ® a].
B) [~a ® b] Þ [b ® a].
C) [a ® b] Þ [~a ® ~b].
D) [a ® b] Þ [~a Ú b].
130. Kiểu suy luận nào đúng? B
A) [a Ú ~b] Þ [~b Ù a].
B) [~a Ú b] Þ ~[~b Ù a].
C) [a Ú b] Þ [~a Ù ~b].
D) [a Ú b] Þ [~a Ù ~b].
131. Trong suy luận diễn dịch hợp lôgích, nếu khái niệm được chu diên ở tiền đề thì ở kết luận nó có chu diên không? C
A) Chu diên.
B) Không chu diên.
C) Có thể chu diên nhưng cũng có thể không chu diên.
D) A), B), C) đều sai.
132. Trong tam đoạn luận đơn hợp lôgích, trung từ phải thế nào? D
A) Có mặt trong cả 2 tiền đề.
B) Chu diên ít nhất 1 lần.
C) Không xuất hiện ở kết luận.
D) A), B), C) đều đúng.
133. Trong tam đoạn luận đơn, nếu cả 2 tiền đề là E hay O thì kết luận hợp lôgích là gì? D
A) A hay I.
B) E hay O.
C) A hay E.
D) A), B), C) đều sai.
134. Trong tam đoạn luận đơn, nếu cả 2 tiền đề là A hay I thì kết luận hợp lôgích là gì? A
A) A hay I.
B) E hay O.
C) A hay E.
D) I hay O.
135. Trong tam đoạn luận đơn, nếu có 1 tiền đề là I hay O thì kết luận hợp lôgích là gì? D
A) A hay I.
B) E hay O.
C) A hay E.
D) O hay I.
136. Trong tam đoạn luận đơn, nếu có 1 tiền đề là E hay O thì kết luận hợp lôgích là gì? B
A) A hay I.
B) E hay O.
C) A hay E.
D) O hay I.
137. Trong tam đoạn luận đơn, nếu 2 tiền đề là I hay O thì kết luận hợp lôgích là gì? D
A) A hay I.
B) E hay O.
C) A hay E.
D) Không kết luận được.
138. Trong tam đoạn luận đơn, nếu cả 2 tiền đề là A hay E thì kết luận hợp lôgích là gì? D
A) A hay I
B) E hay O
C) A hay E
D) A, E, I hay O.
139. Trong tam đoạn luận đơn, những cặp tiền đề nào không vi phạm quy tắc chung? C
A) AA, AE, AI, AO, EA, EO, IA, IE, OA.
B) AA, AE, AI, AO, EA, IA, IE, OA, II.
C) AA, AE, AI, AO, EA, EI, IA, IE, OA.
D) AA, EE, AE, AI, AO, EA, IA, IE,OA.
140. Quy tắc riêng của tam đoạn luận hình 1 là gì? A
A) Đại tiền đề là A hay E; tiểu tiền đề là A hay I.
B) Đại tiền đề là A hay E; tiểu tiền đề là E hay O.
C) Đại tiền đề là A hay E; có 1 tiền đề là A hay I.
D) Đại tiền đề là A hay E; có tiền đề là O hay E.
141. Quy tắc riêng của tam đoạn luận hình 2 là gì? B
A) Đại tiền đề là A hay E; tiểu tiền đề là A hay I.
B) Đại tiền đề là A hay E; có tiền đề là O hay E.
C) Đại tiền đề là A hay E; có 1 tiền đề là A hay I.
D) Đại tiền đề là A hay E; tiểu tiền đề là E hay O.
142. Quy tắc riêng của tam đoạn luận hình 3 là gì? C
A) Đại tiền đề là A hay E; tiểu tiền đề là A hay I.
B) Đại tiền đề là A hay E; tiểu tiền đề là E hay O.
C) Tiểu tiền đề là A hay I; kết luận là O hay I.
D) Đại tiền đề là A hay E; có 1 tiền đề là A hay I.
143. Xác định các kiểu đúng của tam đoạn luận hình 1. C
A) EAE, AEE, EIO, AOO.
B) AAI, AEE, IAI, EAO.
C) AAA, EAE, AII, EIO.
D) AAA, EAE, AEE, EIO.
144. Xác định các kiểu đúng của tam đoạn luận hình 2. A
A) EAE, AEE, EIO, AOO.
B) AAI, AEE, IAI, EAO.
C) AAA, EAE, AII, EIO.
D) AAA, EAE, AEE, EIO.
145. Xác định các kiểu đúng của tam đoạn luận hình 3. D
A) EAE, AEE, EIO, AOO.
B) AAI, AII, EAO, EIO, AOO, OAO.
C) AAA, EAE, AII, EIO.
D) AAI, AII, EAO, IAI, OAO, EIO.
146. “Đàn ông thống trị thế giới; đàn bà thống trị đàn ông; vì vậy, đàn bà thống trị thế giới” là suy luận gì? D
A) Tam đoạn luận hình 1, kiểu AAA.
B) Tam đoạn luận kéo theo, hình thức khẳng định.
C) Tam đoạn luận hình 1, kiểu III.
D) A), B), C) đều sai.
147. “Ăn mặn thì khát nước; Khát nước thì uống nhiều nước; Uống nhiều nước thì đã khát; Vậy, ăn mặn thì đã khát”. Đây là suy luận gì? Có hợp lôgích không? b
A) Suy luận bắc cầu, không hợp lôgích.
B) Suy luận đa đề, không hợp lôgích.
C) Tam đoạn luận phức, kiểu kéo theo thuần túy, dạng tĩnh lược, hợp lôgích.
D) Tam đoạn luận phức, kiểu kéo theo thuần túy, dạng tĩnh lược, không hợp lôgích.
148. “Một số loài thú sống dưới nước; Cá voi sống dưới nước; Vậy, cá voi là loài thú”. Tam đoạn luận đơn này đúng hay sai, vì sao? A
A) Sai, vì trung từ không chu diên trong cả hai tiền đề.
B) Đúng, vì các tiền đề và kết luận đều đúng.
C) Sai, vì cả hai tiền đề đều là phán đoán bộ phận.
D) Sai, vì đại từ không chu diên trong tiền đề nhưng chu diên trong kết luận.
149. Kiểu EIO đúng hay sai, tại sao? Biết rằng, tam đoạn luận đơn này có trung từ là chủ từ trong cả hai tiền đề? C
A) Sai, vì cả hai tiền đề đều là phán đoán bộ phận.
B) Sai, vì trung từ không chu diên trong cả hai tiền đề.
C) Đúng, vì tuân theo tất cả các quy tắc tam đoạn luận đơn.
D) Sai, vì tiểu từ không chu diên trong tiền đề, nhưng chu diên trong kết luận.
150. Kiểu AIO đúng hay sai, tại sao? Biết rằng, tam đoạn luận đơn này có trung từ là chủ từ trong đại tiền đề và là vị từ trong tiểu tiền đề? D
A) Sai, vì trung từ không chu diên trong cả hai tiền đề.
B) Sai, vì đại từ không chu diên ở tiền đề nhưng lại chu diên ở kết luận.
C) Sai, vì cả 2 tiền đề đều là phán đoán khẳng định mà kết luận là phán đoán phủ định.
D) B) và C) đều đúng

151. Kiểu EIO đúng hay sai, vì sao? Biết rằng, tam đoạn luận đơn này có trung từ là chủ từ trong tiểu tiền đề và là vị từ trong đại tiền đề? C
A) Sai, vì cả hai tiền đề đều là phán đoán bộ phận.
B) Sai, vì trung từ không chu diên trong cả hai tiền đề.
C) Đúng, vì tuân theo tất cả các quy tắc tam đoạn luận đơn.
D) Sai, vì tiểu từ không chu diên trong tiền đề, nhưng chu diên trong kết luận.
152. Kiểu AOI đúng hay sai tại sao; Biết rằng tam đoạn luận đơn này có trung từ là chủ từ trong tiểu tiền đề và là vị từ trong đại tiền đề? C
A) Sai, vì trung từ không chu diên trong cả hai tiền đề.
B) Đúng, vì tuân theo tất cả các quy tắc tam đoạn luận.
C) Sai, vì tiểu từ chu diên trong tiền đề, nhưng không chu diên trong kết luận.
D) Sai, vì cả hai tiền đề đều là phán đoán bộ phận.
153. “Chào mào thích ăn hạt kê; bởi vì chào mào là một loài chim; mà mọi loài chim đều thích ăn hạt kê”. Tam đoạn luận này đúng hay sai, tại sao? b
A) Đúng, vì các tiền đề và kết luận đều đúng;
B) Đúng, vì tuân thủ tất cả các quy tắc của tam đoạn luận đơn;
C) Sai, vì không phải loài chim nào cũng thích ăn hạt kê;
D) Sai, vì cả hai tiền đề đều là phán đoán khẳng định.
154. “Đa số hạt cơ bản được tạo thành từ ba hạt quark; Proton là hạt cơ bản; Vậy, Proton được tạo thành từ ba hạt quark”. Tam đoạn luận đơn này đúng hay sai, tại sao? a
A) Sai, vì trung từ không chu diên trong cả hai tiền đề;
B) Đúng, vì tuân thủ tất cả các quy tắc của tam đoạn luận đơn;
C) Sai, vì cả hai tiền đề đều là phán đoán bộ phận;
D) Sai, vì đại từ không chu diên trong tiền đề nhưng chu diên trong kết luận.
155. Kiểu tam đoạn luận đơn AAI, thuộc hình 2 đúng hay sai, vì sao? A
A) Sai, tiểu từ và đại từ chu diên trong tiền đề mà không chu diên trong kết luận.
B) Sai, vì trung từ không chu diên trong cả hai tiền đề.
C) Sai, hai tiền đề là toàn thể mà kết luận lại là phán đoán bộ phận.
D) Đúng, vì thoả mãn tất cả các quy tắc chung của tam đoạn luận đơn.
156. Kiểu tam đoạn luận đơn OAO, thuộc hình 4 đúng hay sai, vì sao? A
A) Sai, vì đại từ không chu diên trong tiền đề mà chu diên trong kết luận.
B) Đúng, vì thoả mãn tất cả các quy tắc chung của tam đoạn luận đơn.
C) Sai, vì trung từ không chu diên trong cả hai tiền đề.
D) Sai, tiểu từ không chu diên trong tiền đề mà chu diên trong kết luận.
157. Khi nào hai phán đoán có quan hệ mâu thuẫn với nhau? A
A) Khi chúng không cùng đúng cùng sai.
B) Khi chúng có cùng thuật ngữ, không cùng đúng cùng sai.
C) Khi chúng không cùng đúng nhưng có thể cùng sai.
D) Khi chúng có cùng thuật ngữ hay phán đoán thành phần, không cùng đúng cùng sai.
158. Điều kiện cần và đủ để hai phán đoán đơn có quan hệ mâu thuẫn nhau là gì? C
A) Khác nhau về chất.
B) Khác nhau về lượng.
C) Khác nhau cả về chất lẫn về lượng.
D) Khác nhau cả về chất, lượng lẫn chủ từ, vị từ.
159. Mâu thuẫn lôgích xuất hiện trong tư duy là do sự kết hợp hai tư tưởng có quan hệ gì lại với nhau? A
A) Trái ngược (tương phản).
B) Mâu thuẫn (tương khắc).
C) Lệ thuộc (bao hàm).
D) Đồng nhất (tương đương).
160. Mệnh đề nào đã bị lược bỏ trong kiểu tam đoạn luận hợp lôgích: M+ a P- ; S+ a P- ? C
A) M+ i S-
B) M- o S+
C) S+ a M-
D) S- i M-
161. Mệnh đề nào đã bị lược bỏ trong kiểu tam đoạn luận hợp lôgích: M+ a P- ; M+ a S- ? D
A) S+ e P+
B) S- o P+
C) S+ a P-
D) S- i P-
162. Mệnh đề nào đã bị lược bỏ trong kiểu tam đoạn luận hợp lôgích: P+ a M- ; S+ e M+ ? A
A) S+ e P+
B) S- o P+
C) S+ a P-
D) S- i P-
163. Mệnh đề nào đã bị lược bỏ trong kiểu tam đoạn luận hợp lôgích: P+ a M- ; S- i P- ? A
A) M+ a S-
B) S- i M-
C) S+ a M-
D) M- i S-
164. Suy luận: “Sinh viên kinh tế nào tốt nghiệp loại giỏi cũng dễ kiếm việc làm. Có một số sinh viên kinh tế không tốt nghiệp loại giỏi. Như vậy có một số sinh viên kinh tế không dễ tìm việc làm” có phải là tam đoạn luận đơn (nhất quyết) không, nếu phải thì nó đúng hay sai, tại sao? A
A) Không phải là tam đoạn luận đơn (nhất quyết);
B) Sai, vì cả hai tiền đề đều là phán đoán bộ phận;
C) Sai, vì đại tư không chu diên trong tiền đề, mà chu diên trong kết luận;
D) Đúng, vì tuân thủ các quy tắc của tam đoạn luận đơn.
165. Có bao nhiêu mệnh đề có quan hệ mâu thuẫn với 1 mệnh đề cho trước? A
A) Một mệnh đề.
B) Hai mệnh đề.
C) Rất nhiều nhưng không vô số mệnh đề.
D) Vô số mệnh đề.
166. Có bao nhiêu mệnh đề có quan hệ tương phản với 1 mệnh đề cho trước? C
A) Một mệnh đề.
B) Hai mệnh đề.
C) Nhiều mệnh đề.
D) Vô số mệnh đề.
167. Sơ đồ suy luận nào đúng? A
A) [(a Ú b) Ù a] Þ ~b.
B) [(a Ú b) Ù a] Þ b.
C) [(a Ú b) Ù ~a] Þ ~b.
D) [(a Ú b) Ù ~a] Þ a.
168. Sơ đồ suy luận nào sai? C
A) [(a Ú b) Ù ~a] Þ b.
B) [(a Ú b) Ù ~a] Þ b.
C) [(a Ú b) Ù a] Þ ~b.
D) [(a Ú b) Ù ~b] Þ a.
169. Sơ đồ suy luận nào sai? D
A) [(a ® b) Ù ~b] Þ ~a.
B) [(a ® ~b) Ù a] Þ ~b.
C) [(~a ® b) Ù ~b] Þ a.
D) [(~a ® ~b) Ù b] Þ ~a.
170. Sơ đồ suy luận nào đúng? C
A) [(a ® b) Ù ~a] Þ ~b.
B) [(a ® b) Ù b] Þ a.
C) [(a ® b) Ù ~b] Þ ~a.
D) A), B), C) đều đúng.
171. “Khi đột nhập vào nhà nạn nhân, bị cáo tuyên bố với nạn nhân rằng, bị cáo sẽ giết nạn nhân nếu nạn nhân không đưa tiền cho bị cáo. Điều này được bị cáo xác nhận là có. Bên cạnh đó cơ quan điều tra cũng đã có kết luận rằng, ngay sau lời tuyên bố của bị cáo, nạn nhân đã đưa tiền cho bị cáo. Vậy suy ra rằng, bị cáo đã không giết nạn nhân”. Suy luận này đúng hay sai; viết sơ đồ suy luận? A
A) Sai; [(~p ® r) Ù p] à ~r.
B) Đúng; [(~p ® r) Ù p] à ~r.
C) Đúng; [(p ® ~r) Ù p] à ~r.
D) Sai; [(p ® ~r) Ù p] à ~r.
172. Cho suy luận: “Nếu Q uống quá nhiều rượu thì anh ấy say xỉn. Q không say xỉn. Vậy có nghĩa là anh ấy không uống, hoặc chỉ uống ít rượu”. Suy luận này đúng hay sai; viết sơ đồ suy luận? C
A) Đúng; ((p ® q) Ù p) ® q.
B) Đúng; ((p ® q) Ù ~p) ® ~q.
C) Đúng; ((p ® q) Ù ~q) ® ~p.
D) Sai; ((p ® q) Ù ~ q) ® (r Ú s).
173. “Nếu trời mưa mà ta không mặc áo mưa thì đi đường sẽ bị ướt; Vì vậy, nếu trời không mưa hoặc ta có mặc áo mưa thì đi đường sẽ không bị ướt”. Suy luận này đúng hay sai; viết sơ đồ suy luận? B
A) Đúng; [(p Ù q) ® r] à [(~p Ú ~q) ® ~r].
B) Sai; [(p Ù q) ® r] à [(~p Ú ~q) ® ~r].
C) Đúng; [(p Ù ~q) ® r] à [(~p Ú q) ® ~r].
D) Sai; [(p Ù q) ® r] à [~(p Ù q) ® r].
174. Sơ đồ suy luận nào đúng? B
A) {[(a ® b) Ù (c ® d)] Ù (b Ú d)} Þ (a Ú c).
B) {[(a ® ~b) Ù (c ® ~d)] Ù (b Ú d)} Þ ~(a Ù c).
C) {[(a ® b) Ù (c ® d)] Ù (~b Ú ~d)} Þ (a Ú c).
D) {[(a ® b) Ù (c ® d)] Ù (~b Ú ~d)} Þ ~(a Ú c).
175. Sơ đồ suy luận nào đúng? C
A) {[(a ® b) Ù (a ® d)] Ù (b Ú d)} Þ a.
B) {[(a ® ~b) Ù (c ® ~b)] Ù ~b} Þ (a Ú c).
C) {[(a ® b) Ù (a ® d)] Ù (~b Ú ~d)} Þ ~a.
D) {[(a ® b) Ù (a ® d)] Ù (~b Ú ~d)} Þ a.
176. Thế nào là suy luận quy nạp? A
A) SL từ tiền đề chứa tri thức riêng rút ra kết luận chứa tri thức bao quát mọi tri thức riêng đó.
B) SL đem lại tri thức tổng quát và gần đúng.
C) SL dựa trên mối liên hệ nhân quả để rút ra kết luận.
D) SL đi từ những quy luật, khái niệm tổng quát rút ra hệ quả tất yếu của chúng.
177. Cách phân loại quy nạp nào đúng? C
A) QN hình thức, QN phóng đại và QN khoa học.
B) QN thông thường và QN toán học.
C) QN hoàn toàn và QN không hoàn toàn.
D) A), B), C) đều đúng.
178. “Sắt, đồng, chì dẫn điện; Sắt, đồng, chì, v.v. là kim loại; vậy, mọi kim loại đều dẫn điện” là suy luận gì? D
A) Tam đoạn luận đơn hình 3, hợp lôgích.
B) Quy nạp hình thức.
C) Loại suy tính chất.
D) A), B), C) đều sai.
179. Kết luận của quy nạp hoàn toàn có tính chất gì? B
A) Bao quát, phong phú.
B) Chắc chắn, bao quát, không mới lạ.
C) Chắc chắn, ngắn gọn, phong phú.
D) Không tin cậy, ngắn gọn, sâu sắc.
180. Quy nạp khoa học có đặc điểm gì? D
A) Được sử dụng trong khoa học để nghiên cứu mọi mối liên hệ nhân quả.
B) Không cần khảo sát nhiều trường hợp mà kết luận được rút ra luôn đúng.
C) Dựa trên mối liên hệ nhân quả để rút ra kết luận có độ tin cậy cao.
D) Chỉ dùng trong khoa học thực nghiệm, từ các sự kiện quan sát rút ra mọi định luật chung.
181. Bổ sung để được một câu đúng: “Phương pháp (PP) tương đồng, PP khác biệt, PP đồng thay đổi và PP phần dư do . . .”. C
A) F.Bacon xây dựng dành cho khoa học thực nghiệm.
B) R.Descartes xây dựng dành cho khoa học lý thuyết.
C) S.Mill xây dựng dành cho khoa học thực nghiệm.
D) Descartes và Bacon xây dựng để phát triển khoa học thời cận đại nhằm thay thế PP kinh viện giáo điều.
182. “Trường hợp 1, gồm các sự kiện a, b, c có hiện tượng A xuất hiện; Trường hợp 2, gồm các sự kiện e, f, a, b có hiện tượng A xuất hiện; Trường hợp 3, gồm các sự kiện a, f, g, h cũng có hiện tượng A xuất hiện; Vậy, sự kiện a là nguyên nhân làm xuất hiện hiện tượng A”. Suy luận này dựa trên phương pháp gì? B
A) PP phần dư.
B) PP tương đồng.
C) PP khác biệt.
D) PP phần dư và PP khác biệt.
183. “Trường hợp 1, gồm các sự kiện a, b, c, d có hiện tượng A xuất hiện; Trường hợp 2, gồm các sự kiện b, c, d nhưng hiện tượng A không xuất hiện; Vậy, sự kiện a là nguyên nhân làm xuất hiện hiện tượng A”. Suy luận này dựa trên phương pháp gì? C
A) PP phần dư.
B) PP tương đồng.
C) PP khác biệt.
D) PP đồng thay đổi.
184. Khi quan sát sự rơi của 1 đồng xu, 1 tờ giấy bạc, 1 lông chim trong ống nghiệm, chúng ta thấy chúng rơi với tốc độ khác nhau; Sau đó, rút hết không khí trong ống nghiệm, chúng ta thấy chúng rơi với tốc độ như nhau; Ta kết luận: Sức cản của không khí là nguyên nhân làm cho các vật có khối lượng và hình dạng khác nhau rơi với tốc độ khác nhau. Kết luận này được rút ra dựa trên phương pháp gì? B
A) PP phần dư.
B) PP khác biệt.
C) PP đồng thay đổi.
D) PP tương đồng.
185. Quan sát thấy: Trường hợp 1, gồm sự kiện a, b, c có hiện tượng A xuất hiện; Trường hợp 2, gồm sự kiện a’, b, c có hiện tượng A’ xuất hiện; Trường hợp 3, gồm sự kiện a’’, b, c có hiện tượng A’’ xuất hiện; Ta kết luận: Sự kiện a là nguyên nhân làm xuất hiện hiện tượng A. Kết luận này được rút ra dựa trên phương pháp gì? D
A) PP phần dư
B) PP tương đồng
C) PP khác biệt
D) PP đồng thay đổi.
186. Năm 1860, Pasteur đem lên núi Alpes 73 bình đựng nước canh đóng kín đã khử trùng: Ở mực nước biển, mở 20 bình, ít ngày sau 8 bình hư; Ở độ cao 85m, mở 20 bình, ít ngày sau 5 bình hư; Ở dộ cao hơn nữa, mở 20 bình, ít ngày sau 1 bình hư. Những bình còn lại đóng kín không hư. Từ những sự kiện này, ông kết luận: Các vi sinh vật đã làm hư bình nước canh không phải tự nhiên mà có, mà chúng do bụi bặm trong không khí mang vào; số vi sinh vật đó giảm dần tương ứng với độ cao, độ lạnh và độ kém của không khí. Kết luận này được rút ra nhờ vận dụng phương pháp gì? C
A) PP phần dư.
B) PP tương đồng.
C) PP khác biệt và PP đồng thay đổi.
D) PP đồng thay đổi và PP phần dư.
187. Trong mối quan hệ giữa quy nạp và diễn dịch thì kết luận của quy nạp trở thành yếu tố nào của diễn dịch? B
A) Kết luận.
B) Đại tiền đề.
C) Tiểu tiền đề.
D) Cả A), B) và C).
188. Loại suy là gì? C
A) Cơ sở của phương pháp mô hình hóa.
B) Suy luận không chắc chắn nhưng sinh động, dễ hiểu.
C) Suy luận đi từ trường hợp riêng này đến trường hợp riêng khác nhờ một số dấu hiệu tương đồng giữa chúng.
D) Cả A), B) và C).
189. “Trái đất là hành tinh có bầu khí quyển, có sự chênh lệch nhiệt độ ngày đêm không lớn, và có sinh vật. Hoả tinh cũng là hành tinh có bầu khí quyển và độ chênh lệch nhiệt độ ngày đêm không lớn. Do đó, trên Hỏa tinh cũng có sự sống”. Đây là suy luận gì? D
A) Tam đoạn luận.
B) Diễn dịch gián tiếp.
C) Quy nạp khoa học.
D) A), B) C) đều sai.
190. Điều kiện nào nâng cao độ tin cậy của kết luận loại suy? D
A) Có nhiều dấu hiệu tương đồng và ít dấu hiệu khác biệt.
B) Dấu hiệu tương đồng mang tính bản chất; dấu hiệu khác biệt không mang tính bản chất.
C) Dấu hiệu tương đồng và dấu hiệu loại suy có liên hệ tất yếu với nhau.
D) Cả A), B), C).
191. “Óc sinh ra tư tưởng cũng giống như gan sinh ra mật, bàng quang sinh ra nước tiểu” là suy luận gì? C
A) Tam đoạn luận tĩnh lược.
B) Loại suy về quan hệ.
C) Loại suy về sự vật.
D) Diễn dịch trực tiếp.
192. Bổ sung để được một định nghĩa đúng: “Chứng minh là thao tác lôgích . . .”. C
A) đi từ những tiền đề tới kết luận đúng.
B) thuyết phục người khác chấp nhận tính chân thực của luận đề do mình đưa ra.
C) dựa trên các luận cứ chân thực để xác lập tính chân thực của luận đề.
D) vạch ra tính sai lầm của phản luận đề.
193. Giả thuyết khoa học là gì? C
A) Dự đoán của các nhà khoa học về tương lai.
B) Cách cắt nghĩa, lý giải tạm thời của các nhà khoa học.
C) Giả định có cơ sở khoa học về mối liên hệ mang tính quy luật của các hiện tượng, quá trình xảy ra trong thế giới.
D) A), B), C) đều đúng.
194. Ba bộ phận cấu thành một chứng minh là gì? A
A) Luận cứ, luận đề, lập luận.
B) Diễn dịch, quy nạp, loại suy.
C) Đại tiền đề, tiểu tiền đề, kết luận.
D) Dữ kiện, giả thuyết, kiểm chứng.
195. Chứng minh trực tiếp là gì? C
A) CM dựa vào kinh nghiệm cá nhân.
B) CM dựa vào kinh nghiệm tập thể.
C) Suy luận đi từ những luận cứ đúng suy ra luận đề đúng.
D) A), B), C) đều sai.
196. Gọi T là luận đề; a, b, c, d là luận cứ; m, n, p, q là các hệ quả tất yếu được suy ra từ a, b, c, d. Sơ đồ [a Ù b Ù c Ù d) ® (m Ù n Ù q) ® T] thể hiện chứng minh gì? C
A) CM gián tiếp.
B) CM phản chứng.
C) CM trực tiếp.
D) CM loại trừ.
197. Trong chứng minh phản chứng chúng ta phải làm gì? C
A) CM luận đề sai.
B) CM luận cứ sai vì mâu thuẫn với luận đề.
C) CM mệnh đề mâu thuẫn với luận đề là mệnh đề sai.
D) Chỉ ra không thể thiết lập được mối liên hệ giữa luận cứ với luận đề.
198. Do điều gì dẫn đến “Sai lầm cơ bản”? a
A) Sử dụng luận cứ không xác thực khi chứng minh hay bác bỏ.
B) Không tuân thủ các quy luật cơ bản của tư duy.
C) Không tuân thủ các quy tắc cơ bản trong chứng minh.
D) Không hiểu được những điều đơn giản, cơ bản trong lập luận.
199. Bác bỏ là gì? C
A) Chỉ là một dạng chứng minh đặc biệt.
B) Phản đối gay gắt, phê bình triệt để một luận điểm nào đó.
C) Vạch ra lập luận, luận cứ hay luận đề không đúng.
D) Cả A), B) và C).
200. “Bố vợ hỏi: Tại sao ngỗng kêu to? Con rể học trò đáp: Cổ dài thì kêu to. Con rể nông dân bác bỏ (BB): Ễnh ương cổ đâu mà cũng kêu to!. Bố vợ lại hỏi: Tại sao vịt nổi? Con rể học trò đáp: Nhiều lông ít thịt thì nổi. Con rể nông dân lại BB: Cái thuyền có lông đâu mà cũng nổi”. Cách BB của con rể nông dân được gọi là gì? A
A) BB luận cứ không là lý do đầy đủ.
B) BB luận chứng không hợp lôgích.
C) BB luận cứ không chân thực.
D) BB luận đề gián tiếp.
201. Cho mệnh đề T, ta xác định mệnh đề ~T trái ngược với mệnh đề T, và chứng minh mệnh đề ~T đúng. Thao tác lôgích này được gọi là gì? C
A) Chứng minh gián tiếp mệnh đề T.
B) Chứng minh phản chứng mệnh đề T.
C) Bác bỏ gián tiếp mệnh đề T.
D) A), B), C) đều sai.
202. Lỗi lôgích “Đánh tráo luận đề” thường xảy ra trong trường hợp nào? B
A) Suy luận loại suy.
B) Chứng minh hay bác bỏ.
C) Nguỵ biện dựa vào tình cảm hay bạo lực.
D) Nguỵ biện “cái sau cái đó là do cái đó”.
203. “Chứng minh dựa vào tư cách cá nhân” là biểu hiện cụ thể của lỗi lôgích gì? A
A) Sai lầm cơ bản.
B) Lập luận vòng vo.
C) Vượt quá cơ sở.
D) Đánh tráo luận đề.
204. “Lý luận bằng gậy” là biểu hiện cụ thể của lỗi lôgích gì? A
A) Sai lầm cơ bản.
B) Lập luận vòng vo.
C) Vượt quá cơ sở.
D) Đánh tráo luận đề.
205. “Hành văn mập mờ” là sai lầm do vi phạm quy luật nào? D
A) QL lý do đầy đủ.
B) QL loại trừ cái thứ ba.
C) QL phi mâu thuẫn.
D) A), B) C) đều sai.
206. Nguỵ biện là gì? C
A) Sử dụng hình thức tư duy đúng để thay đổi nội dung tư duy.
B) Cố ý mắc lỗi lôgích tinh vi trong mọi quá trình lập luận, suy nghĩ.
C) Cố ý mắc lỗi lôgích với mục đích thay đổi giá trị chân lý của mệnh đề.
D) Lý giải một cách gian xảo, vô đạo đức, nhằm chiến thắng đối phương.
207. Ai đó nói “Tôi là kẻ nói dối”; vậy người đó nói dối hay nói thật? D
A) Nói dối.
B) Nói thật.
C) Là người nói thật nhưng trong trường hợp này nói dối.
D) A), B), C) đều sai.
208. Nếu theo lệnh “Chỉ được phép cạo cho tất cả những người và chỉ những người không tự cạo”, thì anh thợ cạo có được phép cạo cho mình hay không? D
A) Được phép.
B) Không được phép.
C) Lệnh này không áp dụng cho anh thợ cạo.
D) A), B), C) đều sai.
209. Nghịch lý lôgích là gì? C
A) Lập luận hợp lôgích, có tiền đề và kết luận những mệnh đề đối chọi nhau.
B) Là một dạng nguỵ biện đặc biệt; một kiểu phản bác, phê bình triệt để.
C) Lập luận hợp lôgích, có tiền đề và kết luận những mệnh đề mâu thuẫn nhau.
D) A), B), C) đều đúng.
210. Có 3 GV dạy 3 môn: toán, lý, hóa. GV dạy môn lý nhận xét: “Chúng ta mỗi người dạy 1 trong 3 môn trùng với tên của chúng ta nhưng không ai dạy môn trùng với tên của mình cả”. GV Toán hưởng ứng: “Anh nói đúng”. Hỏi GV nào, dạy môn gì? C
A) GV Toán dạy toán, GV Lý dạy lý, GV Hóa dạy hóa.
B) GV Toán dạy lý, GV Lý dạy hóa, GV Hóa dạy toán.
C) GV Toán dạy hóa, GV Hóa dạy lý, GV Lý dạy toán.
D) GV Toán dạy lý, GV Lý dạy toán, GV Hoá dạy hóa.
211. Có ba GV tên là: Toán, Lý, Hóa; Mỗi người dạy một trong ba môn là: môn toán, môn lý, môn hóa; Ba mệnh đề sau đây chỉ có một mệnh đề đúng: 1) GV Toán dạy môn hóa; 2) GV Lý không dạy môn hóa; 3) GV Hóa không dạy môn lý. Hỏi GV nào dạy môn gì? B
A) GV Toán dạy toán, GV Lý dạy lý, GV Hoá dạy hóa.
B) GV Toán dạy lý, GV Lý dạy hóa, GV Hoá dạy toán.
C) GV Toán dạy hóa, GV Hoá dạy lý, GV Lý dạy toán.
D) GV Toán dạy lý, GV Lý dạy toán, GV Hoá dạy hóa.
212. Nếu mệnh đề “Trong hội nghị này (THNN) có người tán thành ý kiến ấy” là đúng, thì mệnh đề nào sau đây cũng đúng? A
A) THNN không phải không có người tán thành ý kiến ấy.
B) THNN không có ai không tán thành ý kiến ấy.
C) THNN có vài người không tán thành ý kiến ấy.
D) A), B), C) đều đúng.
213. Nếu mệnh đề “Trong hội nghị này (THNN) có người tán thành ý kiến ấy (TTYKÂ)” là sai, thì mệnh đề nào sau đây sẽ đúng? B
A) THNN không phải không có người TTYKÂ.
B) THNN không có ai không TTYKÂ.
C) THNN có vài người không TTYKÂ.
D) B) và C) đều đúng.
214. Bốn bạn X, Y, Z, W vừa thi đấu cờ vua trở về. Có ba em đạt ba giải (nhất, nhì, ba) và một em không đạt giải. Khi được hỏi về kết quả, các em trả lời như sau: X trả lời: “Mình đạt giải nhì hoặc ba”; Y trả lời: “Mình đã đạt giải”; Z trả lời: “Mình đạt giải nhất”; W trả lời: “Mình không đạt giải”. Biết có 3 bạn nói thật, 1 bạn nói đùa. Hỏi bạn nào nói đùa? A
A) Bạn Z nói đùa.
B) Bạn Y nói đùa.
C) Bạn X nói đùa.
D) Bạn W nói đùa.
215. P nói: “…xin thưa để cho rõ rằng, nếu mọi người đều trở thành học giả hay làm ông lớn cả thì lấy ai đi cày hay buôn bán nữa. Rồi nhân loại chết đói hết”. Q cố bác bẻ: “Nhưng nếu ai cũng đi cày hay đi buôn cả thì còn ai thông hiểu học vấn nữa. Rồi nhân loại dốt hết”. Suy luận rút gọn của P và Q là suy luận gì, có hợp lôgích không? C
A) TĐL kéo theo, hình thức khẳng định, hợp lôgích.
B) TĐL kéo theo, hình thức phủ định, hợp lôgích.
C) TĐL kéo theo, hình thức khẳng định, không hợp lôgích.
D) TĐL kéo theo, hình thức phủ định, không hợp lôgích.
216. Có cuộc thoại: Chàng trai – “Nếu em lấy anh thì anh sẽ không để cho em phải khổ”. Cô gái – “Vậy, anh muốn nói rằng, nếu không lấy anh thì đời em sẽ khổ chứ gì?”. Kết luận của cô gái rút ra dựa trên suy luận gì, có hợp lôgích không? C
A) Tam đoạn luận tĩnh lược, hợp lôgích.
B) Diễn dịch trực tiếp, hợp lôgích.
C) Diễn dịch trực tiếp, không hợp lôgích.
D) Kiểu đổi chỗ, không hợp lôgích.
217. Có ba ông thợ cắt tóc X, Y, Z (một ông thợ giỏi, một ông thợ trung bình, một ông thợ vụng) tháng nào cũng cắt tóc cho nhau. Hãy cho biết tay nghề của từng ông thợ, nếu quan sát thấy: Tháng đầu, đầu ông X được cắt trung bình, đầu ông Y được cắt đẹp, đầu ông Z bị cắt xấu. Tháng sau, đầu ông X được cắt đẹp, đầu ông Y bị cắt xấu, đầu ông Z được cắt trung bình. C
A) X – thợ cắt đẹp; Y – thợ cắt trung bình; Z – thợ cắt xấu.
B) Z – thợ cắt đẹp; X – thợ cắt trung bình; Y – thợ cắt xấu.
C) Y – thợ cắt trung bình; Z – thợ cắt đẹp; X – thợ cắt xấu.
D) Y – thợ cắt đẹp; Z – thợ cắt trung bình; X – thợ cắt xấu.
218. “Hắn chửi như những người say rượu hát. Giá mà hắn biết hát thì hắn đã không chửi. Nhưng khổ cho đời và khổ cho người là hắn lại không biết hát. Vậy thì hắn chửi, cũng như chiều nay hắn chửi”. Đoạn văn trên thể hiện suy luận gì? có hợp lôgích không? A
A) Tam đoạn luận (TĐL) giả định, hợp lôgích.
B) TĐL điều kiện, hợp lôgích.
C) TĐL giả định, không hợp lôgích.
D) TL điều kiện, không hợp lôgích.
219. “Nó mà sống thì là một chuyện màu nhiệm, mà chuyện màu nhiệm thì không còn xảy ra ở cái thế giới này nữa”. Đoạn văn trên thể hiện suy luận gì? có hợp lôgích không? C
A) Tam đoạn luận (TĐL) kéo theo, hình thức phủ định, không hợp lôgích.
B) TĐL kéo theo thuần tuý, tĩnh lược kết luận, hợp lôgích.
C) TĐL kéo theo, hình thức phủ định, hợp lôgích.
D) Diễ dịch trực tiếp, kiểu kéo theo, hợp lôgích.
220. “Không có sách thì không có tri thức. Không có tri thức thì không có chủ nghĩa cộng sản”. Đoạn văn này thể hiện suy luận gì? Có hợp lôgích không? D
A) Tam đoạn luận (TĐL) kéo theo, hợp lôgích.
B) TĐL kéo theo thuần túy, không hợp lôgích.
C) Diễn dịch trực tiếp, hợp lôgích.
D) A), B), C) đều sai.
221. “Những người yếu đuối vẫn hay hiền lành. Muốn ác, phải là kẻ mạnh. Hắn đâu còn mạnh nữa”. Đoạn văn này thể hiện suy luận gì? có hợp lôgích hay không? A
A) Tam đoạn luận (TĐL) kéo theo, hình thức khẳng định, bớt kết luận, hợp lôgích.
B) TĐL kéo theo, hình thức khẳng định, bớt kết luận, không hợp lôgích.
C) TĐL kéo theo, hình thức phủ định, bớt tiểu tiền đề, hợp lôgích.
D) Tam đoạn luận, không hợp lôgích.
222. “Bao giờ cây lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”. Câu ca dao này thể hiện suy luận gì? Có hợp lôgích không? C
A) Tam đoạn luận kéo theo (TĐLKT), không hợp lôgích.
B) TĐLKT, hình thức phủ định, bớt đại tiền đề và kết luận, hợp lôgích.
C) TĐLKT, hình thức khẳng định, bớt tiểu tiền đề và kết luận, hợp lôgích.
D) Diễn dịch trực tiếp, bớt kết luận, hợp lôgích.
223. “Không hiệp ý thì đã chẳng đến đây; đã đến đây tức là không ai không hiệp ý”. Đoạn văn này thể hiện suy luận gì? Có hợp lôgích không? D
A) Tam đoạn luận (TĐL) kéo theo thuần tuý, bớt kết luận, hợp lôgích.
B) TĐL kéo theo, hình thức phủ định, bớt kết luận, hợp lôgích.
C) TĐL kéo theo thuần tuý, bớtđại tiền đề, không hợp lôgích.
D) Diễn dịch trực tiếp kiểu kéo theo, hợp lôgích.
224. “Vợ tôi là đàn bà; cô là đàn bà; vậy, cô là vợ tôi”. Kết luận sai lầm này có thể bác bỏ bằng cách nào? C
A) Chỉ ra luận cứ không chân thực.
B) Chỉ ra luận cứ không là lý do đầy đủ.
C) Chỉ ra lập luận không hợp lôgích.
D) A), B), C) đều đúng.
225. Suy luận: “Nghèo đói thì không học hành được; Không học hành được thì dốt nát; Dốt nát thì không biết cách làm ăn; Không biết cách làm ăn thì lại đói nghèo. Như vậy, đói nghèo lại sinh ra nghèo đói” là đúng hay sai, vì sao? D
A) Sai, vì luẩn quẩn.
B) Sai, vì quá bi quan.
C) Sai, vì trên thực tế không học hành được cũng chưa chắc chắn là dốt nát.
D) Đúng về hình thức, nhưng kết luận sai, vì có tiền đề sai.
226. Qua lời thoại sau hãy xác định lý luận của Y là gì?
X: Tôi cho rằng anh không tuân theo quy tắc giao thông như vậy là sai. Phải sửa chữa.
Y: Không tuân theo cũng chẳng có gì là ghê gớm cả!
X: Mọi người ai cũng không tuân theo thì trên đường sẽ loạn.
Y: Tôi không cãi nổi với anh, mà anh cũng chả giỏi giang gì, anh thử nói giao thông là gì xem nào?. C
A) Ngụy biện đòi hỏi quá đáng.
B) Ngụy biện công kích đối phương.
C) Ngụy biện đánh lạc hướng.
D) Lập luận vòng quanh, dài dòng.
227. Ba công ty S1, S2, S3 thỏa thuận với nhau: “Nếu S1 không đầu tư vào một lĩnh vực nào đó thì S2 cũng không được đầu tư vào lĩnh vực đó. Nhưng, nếu S1 đầu tư vào một lĩnh vực nào đó thì cả S2 và S3 đều phải đầu tư vào lĩnh vực đó”. Hỏi, nếu S2 đầu tư vào lĩnh vực địa ốc thì S3 có phải đầu tư vào lĩnh vực địa ốc hay không? B
A) Đầu tư mà bất chấp S1 có đầu tư hay không.
B) Đầu tư khi S1 đầu tư.
C) Đầu tư khi S1 không đầu tư.
D) Không đầu tư khi S1 đầu tư.
228. Ông B có quan hệ gì với bà A; nếu biết, Mẹ chồng bà A có 2 chị em mà em vợ của ông B là cậu của chồng bà A? C
A) Ông B là bác chồng bà A.
B) Ông B là cậu chồng bà A.
C) Ông B là ba chồng bà A.
D) Ông B là dượng chồng bà A.
229. Mệnh đề nào tương đương với: “Lượng sắt trong cơ thể (CT) của chúng ta là không đáng kể, nhưng lượng sắt đó lại hoàn toàn không thể thiếu được đối với việc duy trì sự sống cho con người (CN)”? C
A) Muốn sống thì CT của CN cần phải có sắt.
B) Lượng sắt đáng kể trong CT của chúng ta là lượng sắt không duy trì sự sống cho CN.
C) Điều kiện cần và đủ để CN sống được là trong CT của CN phải có sắt.
D) Lượng sắt không đáng kể trong CT của chúng ta là lượng sắt không thể thiếu được đối với việc duy trì sự sống cho CN.
230. Ba bạn X, Y và Z thỏa thuận với nhau như sau: 1) Nếu X không tán thành một vấn đề nào đó thì Y cũng không tán thành vấn đề đó; 2) Nếu X tán thành một vấn đề nào đó thì cả Y lẫn Z đều phải tán thành vấn đề đó. Hỏi, nếu Y tán thành một vấn đề nào đó thì Z có tán thành vấn đề đó hay không? A
A) Tán thành, khi X tán thành.
B) Không tán thành, khi X không tán thành.
C) Tán thành, khi X không tán thành.
D) Không tán thành, khi X tán thành.
231. Hai bạn X và Y hay đùa (lúc nói thật, lúc nói dối). Một lần, X bảo Y: “Lúc nào mình không nói dối thì cậu cũng không nói dối”. Y trả lời: “Lúc nào mình nói dối thì cậu cũng nói dối”. Hỏi, lúc này bạn nào nói thật, bạn nào nói dối? A
A) X nói dối, Y nói thật.
B) X nói thật, Y nói dối.
C) X và Y cùng nói dối.
D) X và Y hoặc cùng nói dối hoặc cùng nói thật.
232. Nếu gọi: P = Tôi có tiền, Q = Tôi mua rượu; thì phán đoán: “Rượu ngon không có bạn hiền. Không mua, không phải không tiền không mua” được ký hiệu như thế nào? C
A) ~(P ® ~Q).
B) ~(~P ® Q).
C) ~(~P ® ~Q).
D) (~P ® ~Q).
233. Nếu gọi: P = Có sự ngăn sông cách núi, R = Lòng người ngại núi e sông, Q = Đường đi khó; thì phán đoán: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông” được ký hiệu như thế nào? A
A) ~(P ® Q) Ù (R ® Q).
B) ~(~P ® Q) Ù (~R ® Q).
C) ~[(P ® Q) Ù (R ® Q)].
D) ~(P ® Q) Ù (~R ® Q).

Posted in Logic học

On thi Logic

Chương II : Những luật cơ bản của tư duy
1. Luật đồng nhất:
Mọi tư tưởng phản ánh cùng một đối tượng trong cùng một quan hệ phải được đồng nhất.
A = A, đọc là “A là A”, hoặc “A đồng nhất với A”.
Yêu cầu 1: Phải có khái niệm đúng về các đối tượng mà ta đang tư duy về chúng
Yêu cầu 2: Các sự vật, hiện tượng tư tưởng …giống nhau về bản chất thì không được xem là khác nhau và ngược lại các sự vật, hiện tượng, tư tưởng khác nhau về bản chất thì không được đồng nhất với nhau
Yêu cầu 3: Kô được đánh tráo tư tưởng, khái niệm, đối tượng của tư duy
Yêu cầu 4: Ý tưởng, tư tuởng tái tạo phải đồng nhất với ý nghĩa tư tưởng ban đầu
2. Luật cấm mâu thuẫn:
Với cùng một đối tượng, trong cùng một quan hệ, nếu có hai tư tưởng trái ngược nhau thì không thể đồng thời cùng đúng.
~ (A ^ ~ A), đọc là : “Không phải A và không A”
Note: luật cấm mâu thuẫn nói không thể đồng thời đúng, có thể cả 02 cùng sai.
Yêu cầu 1: không có mâu thuẫn logic trực tiếp trong tư duy, không thể khẳng định rồi lại phủ định.
Yêu cầu 2: Không thể khẳng định một điều gì đó rồi lại phủ định hệ quả tất yếu của điều vừa khẳng định ấy.
Yêu cầu 3: Không được đồng thời khẳng định cho đối tượng 02 đặc điểm nào đó mà trong thực tế là chúng loại trừ nhau.
3. Luật triệt tam, bài trung
– Với cùng một đối tượng, trong cùng một quan hệ mà có hai phán đoán phủ định nhau, thì chúng không thể cùng đúng hoặc cùng sai, một trong hai phán đoán phải đúng, phán đoán kia sai, không có cái thứ ba.
– Một tư tưởng phản ánh về một đối tượng xác định thì phải mang giá trị logic xác định, hoặc đúng, hoặc sai, hoặc có, hoặc không chứ không có khả năng thứ ba nào khác.
4. Luật lý do đầy đủ
Mọi sự khẳng định hay phủ định chị được công nhận là đúng khi có đủ căn cứ xác đáng chứng minh cho tính đúng của nó
A -> B Có B vì có A
Yêu cầu 1: Chỉ được sử dụng các sự kiện làm luận cứ cho việc chứng minh khi chúng có thật và có quan hệ tất yếu với sự kiện đang cần chứng minh.
– Vi phạm xảy ra trong 03 khả năng; sử dụng các sự kiện không có thật; có thật nhưng không có quan hệ tất yếu hoặc không chứng minh được mối quan hệ tất yếu; sử dụng các sự kiện không theo trình tự đúng.
Yêu cầu 2: Chỉ được sử dụng các tư tưởng mà tính đúng của nó đã được khoa học chứng minh, được thực tiễn kiểm nhận là đúng, hoặc được pháp luật quy định, làm luận cứ cho việc chứng minh.
– Vi phạm: dung tư tưởng sai; dùng các tư tưởng mà tính đúng của nó đang còn tranh cãi; dùng các tư tưởng mà tính đúng của nó không còn được thừa nhận (chủ nghĩa giáo điều); dùng khái niệm của lãnh vực này lý giải các vấn đề của lãnh vực khác. …
Yêu cầu 3: Khi dùg các tư tưởng đúng làm luận cứ cho việc cm thì các tt ấy phải có liên hệ một các logic với cđ đang cần cm.

Chương III : KHÁI NIỆM
Khái niệm về một đối tượng nào đó chính là những hiểu biết, những ghi nhận, những phản ánh của con người về những dấu hiệu bản chất của đối tượng ấy.
Nội hàm của khái niệm là tập hợp những dấu hiệu bản chất của đối tượng được phản ánh trong khái niệm.
Ngoại diên của khái niệm là tập hợp những đối tượng có cùng nội hàm.
Định nghĩa khái niệm là thao tác lôgích qua đó chỉ rõ ngoại diên của khái niệm được định nghĩa.
Định nghĩa thường có dạng A là B, trong đó A là khái niệm cần được định nghĩa và B là phần dùng để định nghĩa .
Định nghĩa theo tập hợp là định nghĩa trong đó nêu lên một khái niệm đã biết, gần gũi và có ngoại diên bao chứa đối tượng cần định nghĩa, sau đó chỉ ra các dấu hiệu bản chất, đặc thù của đối tượng cần được định nghĩa để phân biệt nó với các đối tượng khác cùng lệ thuộc ngoại diên của khái niệm đã biết ấy.
a = A + những dấu hiệu riêng của a
Định nghĩa thông qua liệt kê là định nghĩa trong đó liệt kê tất cả các đối tượng được khái niệm phản ánh.
A = (a1, a2 …., an)
Chương IV : PHÁN ĐOÁN
Phán đoán là hình thức cơ bản của tư duy, trong đó thể hiện sự khẳng định hoặc phủ định một dấu hiệu, một mối quan hệ ..nào đó ở sự vật hiện tượng.
Phán đoán đúng là pđ phản ánh cái mà trong thực tế khách quan hiển nhiên như vậy, hoặc đươc công nhận như vậy, hoặc được rút ra một cách hợp logic từ các pđ đúng trước đó.
Phán đoán sai là phán đoán phản ánh cái mà trong thực tế khách quan không đúng như vậy hoặc không được thừa nhận như vậy.
Phán đoán và câu: câu khẳng định hay phủ định = phán đoán
Phán đoán đơn
Chủ từ : ký hiệu S là chủ từ của phán đoán
Thuộc từ: kí hiệu là P là dấu hiệu được khẳng định hay phủ định khi tư duy về đối tượng.
Hệ từ : là từ nối thường là “là” “không là”
Công thức tổng quát của pđ đơn S là P
S không là P
Phán đoán khẳng định S là P
Phán đoán phủ định: S không là P
Note: phủ đinh của phủ định là khẳng định a = – ( -a )
Phán đoán chung Mọi S là P
Mọi S không là P
Mọi có thể thay = toàn bộ, tất cả, toàn thể, ai ai (lượng từ)
Phán đoán riêng Một số S là P
Một số S không là P
Một số có thể thay = một phần, phần lớn, không phải tất cả, một vài, hầu hết, có, nói chung, nhìn chung, có những …
Phán đoán đơn nhất A là P
Kết hợp chất + lượng ta có các loại phán đoán AIEO
A Phán đoán khẳng định chung Mọi S là P
I Phán đoán khẳng định riêng Một số S là P
E Phán đoán phủ định chung Mọi S không là P
O Phán đoán phủ định riêng Một số S không là P
Ngoại diên của S và P
S trong phán đoán đơn đươc coi là có ngoại diên đầy đủ (+) nếu trong quan hệ với P, ngoại diên của nó được đề cập đế một cách toàn bộ và ngược lại có ngoại diên không đầy đủ (-) trong quan hệ với P nếu ngoại diên của nó được đề cập đến một cách không toàn bộ.
Phán đoán  S P
A                 + –
I                   – –
E                 + +
O                 – +

Posted in Logic học

Trách nhiệm hình sự

Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý của việc phạm tội thể hiện ở trách nhiệm của người phạm tội trước Nhà nước phải chịu những tác động pháp lý bất lợi được quy định trong luật hình sự do Tòa án áp dụng theo một trình tự tố tụng nhất định.

1. Trách nhiệm hình sự là “hậu quả pháp lý của việc phạm tội thể hiện ở chố người đã gây tội phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước”.

2. Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong PLHS bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó thực hiện.

3. Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định.

4. TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp) và mang án tích.
Các đặc điểm của TNHS

1. TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm

Xuất phát từ nguyên tắc có luật, có tội và trách nhiệm hình sự, nên TNHS chỉ đặt ra khi có một tội phạm được thực hiện. Điều 2 BLHS 1999 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Chính việc thực hiện tội phạm là sự kiện pháp lý làm phát sinh TNHS. Do vậy, TNHS phát sinh và tồn tại khách quan kể từ khi tội phạm được thực hiện không phụ thuộc vào việc cơ quan có thẩm quyền đã phát hiện được tội phạm và người phạm tội chưa.

2. TNHS là một dạng trách nhiệm nghiêm khắc nhất trong các trách nhiệm pháp lý

Trách nhiệm pháp lý gồm nhiều loại:

Trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hành chính
Trách nhiệm vật chất
Trách nhiệm kỷ luật

Tính chất nghiêm khắc vượt trội của TNHS thể hiện ở chổ người phạm tội bị Tòa án kết ản, phải chịu hình phạt và các biện pháp tư pháp và mang án tích,

Hình phạt, biện pháp tư pháp và án tích vừa là nội dung của TNHS vừa là hình thức thực hiện TNHS

Bằng việc ra bản án kết tội đối với một người, tòa án nhân danh nhà nước chính thức lên án người phạm tội. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế chủ yếu của luật hình sự không chỉ hạn chế quyền tự do, quyền tài sản, quyền chính trị mà thậm chí có thể tước bỏ cả quyền sống của người phạm tội.

Ngoài ra, người bị kết án phải chấp hành các biện pháp tư phap như bị tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi, bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại phường xã thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng.

Án tích là một tình trạnh pháp lý bất lợi về hình sự đối với người phạm tội thể hiện ở chổ án tích là dấu hiệu định tội dối với một số trường hợp được quy định tại Phần các tội phạm BLHS. Án tích cũng là điều kiện để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong vụ án hình sự. Người phạm tội bị mang án tích kể từ khi bị kết án cho đến khi được xóa án hoặc miễn TNHS.

3. THHS là trách nhiệm cá nhấn của người phạm tội trước nhà nước.

Đặc điểm này xuất phát từ quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội và hàm chứa hai nội dung.

TNHS là trách nhiệm cá nhân của người phạm tội. Những người thân thích của họ không phải cùng chịu TNHS. Một người khi phạm tội đã gây nguy hiểm cho xã hội thì cá nhân họ phải chịu TN về việc phạm tội.
Với ý nghĩa là phản ứng của Nhà nước trước TP nên TNHS mang tính công công. Nghĩa là chỉ có Nhà nước mới có thẩm quyền truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Người phạm tội không chịu TNHS trước cá nhân hoặc tổ chức đã bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại.

4. TNHS được xác định bằng trình tự đặc biệt được quy định trong luật tố tụng hình sự

Chỉ có những cơ quan tiến hành tố tụng mới có thẩm quyền xác định TNHS đối với người phạm tội. Việc xác định TNHS đó không được tùy tiện mà phải tuân thủ trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ để tránh oan sai, bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự.

5. TNHS được phản ánh trong bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Tòa án

Quyết định về TNHS chỉ có thể được thể hiện trong bản án hoặc quyết định của Tòa án, Kết quả của việc xác định TNHS theo luật tố tụng hình sự phải được phản ánh trong phán quyết kết tội của tòa án thể hiện bản án hoặc quyết định của Tòa án.

TNHS phát sinh khi một tội phạm được thực hiện. TNHS được thực hiện kể từ khi bản án kết tội có hiệu lực và được đưa ra thi hành. TNHS chấm dứt thì không còn những tác động pháp lý về hình sự bất lợi đối với người phạm tội. Trong thực tiễn, TNHS chấm dứt khi người phạm tội được miễn TNHS hoặc được xóa án tích.

Nguồn bài viết: http://luathoc.cafeluat.com/showthread.php/41154-Trach-nhiem-hinh-su-#ixzz2G7yFpz00

Posted in Những v/đ LL về Luật Hình sự và tội phạm

Logic của sơ Logic

Logic của sơ Logic

Có hai nữ tu sỹ, một trong số họ rất giỏi toán và được gọi là Sơ Toán (ST) còn người kia thì rất giỏi về Logic nên được gọi là Sơ Logic (SL). Một hôm, trời tối mà họ vẫn chưa về tới tu viện.

ST: Sơ có nhận thấy một người đàn ông đi theo chúng ta suốt 38 phút và 30 giây không? Không biết hắn tính làm gì?

SL: Suy luận một cách logic thì hắn định hãm hại chúng ta.

ST: Trời ơi! Không! Với tốc độ này thì 15 phút 03 giây nữa hắn sẽ đuổi kịp chúng ta. Làm thế nào bây giờ?

SL: Điều logic duy nhất là chúng ta phải đi nhanh lên.

ST: Không có kết quả rồi, Sơ ơi!

SL: Tất nhiên là không hiệu quả rồi. Vì theo lẽ logic thì tên đó cũng sẽ đi nhanh lên.

ST: Thế làm gì bây giờ? Với vận tốc như thế thì chỉ 1 phút nữa là hắn tóm được chúng ta.

SL: Cách logic nhất bây giờ là chúng ta hãy chia làm hai. Sơ đi đường kia, tôi đi đường này. Theo lẽ logic thì hắn sẽ không đuổi được cả hai người.

Họ chia ra làm hai ngả. Tên đàn ông quyết định đuổi theo Sơ Logic. Sơ Toán về đến tu viện và vô cùng lo lắng cho Sơ Logic. Một lát sau, Sơ Logic cũng về đến nơi.

ST: Sơ Logic! Cám ơn đức Chúa là Sơ đã về! Nói cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra đi!

SL: Theo suy luận logic, vì hắn không thể đuổi theo cả hai nên hắn theo tôi.

ST: Đúng! Nhưng sau đó chuyện gì xẩy ra?

SL: Chỉ một điều có logic diễn ra. Ðó là tôi chạy thục mạng và hắn cũng chạy thục mạng.

ST: Và?

SL: Hắn đuổi kịp tôi, đó là khả năng logic nhất.

ST: Thế sơ đã làm gì?

SL: Tôi đã hành động lôgíc nhất. Tôi vén váy lên.

ST: Ôi trời, Sơ ơi! Thế hắn làm gì?

SL: Hắn cũng thực hiện một hành động lôgíc nhất. Hắn tụt quần xuống.

ST: Lạy cha! Chuyện gì xảy ra sau đó?

SL: Logic quá còn gì nữa Sơ? Một bà sơ với cái váy vén lên chắc chắn chạy nhanh hơn một thằng đàn ông với cái quần đang tụt xuống…

Ðó là lý do tại sao bạn nên học thật tốt môn Logic học nếu bạn được dạy ở trường!

(SƯU TẦM)

Posted in Logic học

LOGIC HỌC TÁN GÁI

LOGIC HỌC TÁN GÁI

Tôi là kĩ sư CNTT trong lứa tuổi hai mươi mấy: thân thể tráng kiện và tinh thần minh mẫn. Ở trọ chung với tôi là tên bạn nối khố, 2 đứa tôi cùng mê 1 cô bé đang học tại ĐH Bách Khoa tên Hương, cũng theo ngành CNTT.
Dạo ấy phong trào mặc áo da đang lên cao cho nên thằng bạn chung phòng của tôi mới tậu một cái áo da bò vàng, với ý định dùng nó để cưa cô bé Hương. Phần tôi, tôi tin rằng với cái đầu sắc bén của một kĩ sư, với cái logic khổ luyện trong học đường, Hương sẽ thấy nó đáng giá gấp bội cái áo da màu vàng nhảm nhí ấy.
Rình rập mãi tôi cũng rủ được Hương đi chơi lần đầu. Thật đúng là sắc đẹp thường tỉ lệ nghịch với trí thông minh… Vì thế tôi quyết định phảu dạy cô bạn gái tương lai của tôi lô gích trước khi tỏ tình. Tôi thì thầm bảo Hương:

– Em có muốn học logic không?
+ Logic là gì hở anh?
– Logic là môn khoa học trí tuệ em ạ. Không có logic nói chẳng ai muốn nghe. Biết logic rồi thì có đuổi thiên hạ cũng kéo tới nghe mình buôn dưa lê đấy.
+ Hay quá, thế anh dạy em logic được không?
– OK, nhưng trước khi học cách Lý Luận Đúng, em phải biết thế nào là Lý Luận Sai trước đã.
Tiếng Anh họ gọi là logical fallacy.
+ Vậy anh dạy em cái con fallacy trước nhá?
Tôi bắt đầu:
– Cái đầu tiên em phải biết là Dicto Simpliciter!
+ Là gì thế anh?
– Tức là Đơn Giản Hóa Vấn Đề. Thí dụ nhá: mấy cô lấy chồng Việt Kiều toàn ham tiền, mình phải nói cho họ biết là…
+ Đúng thế anh ạ. Gần nhà em có 1 con bé…
Tôi ngắt lời:
– Thế là sai em ạ: đâu phải ai lấy chồng Việt Kiều cũng là vì tiền. Cũng có người vì tình yêu, hay biết đâu họ quen nhau trước khi anh ta xuất ngoại. Đó là chưa kể đâu phải Việt Kiều nào cũng giàu hơn người trong nước?
+ Ờ nhỉ. Logic vui quá anh nhỉ, anh nói tiếp đi.
– Cái logic sai thứ hai tiếng Anh gọi là Hasty Generalization, trong đời thường tiếng Việt ta gọi là Vơ Đũa Cả Nắm. Thí dụ nhá: anh có ông bạn buôn thuốc lá bên Đức, em cũng có cô bạn buôn thuốc lá bên ấy… Vậy là ai ở Đức cũng buôn thuốc lá!
+ Đúng đấy anh ạ, con bạn em nó …
– Đúng là đúng thế nào? Tôi bật cười: “Mình biết có 2 người bên Đức buôn thuốc lá, đâu có nghĩa là ai bên ấy cũng đi buôn. Sai lầm này lôgích học gọi là khái quát hoá vội vã”.
+ Logic hay quá anh ơi, tiếp nữa đi anh.
+ Bây giờ tới Post Hoc. Thí dụ nhá: đừng cho thằng em của em đi chơi theo chúng mình. Lần nào nó đi theo cũng mưa. Lý luận thế là sai vì trời mưa chả liên quan gì tới nó cả. Lôgích học gọi là vi phạm quy luật lý do đầy đủ đấy !
Thấy Hương tròn xoe mắt thán phục, tôi nả đạn liên tục:
– Tiếp theo là Contradictory Premises: Nếu Thượng Đế làm gì cũng được, thì Thượng Đế có thể làm ra 1 cục đá nặng đến chính Ngài cũng không nâng nổi. Có đúng thế không em?
+ Được chứ anh, chuyện nhỏ như con thỏ. Ngài có thể …
– Được là được thế nào? Nếu mà làm được thì có nghĩa là có 1 cục đá TĐ không nâng nổi, mà lúc đầu mình nói là cái gì TĐ cũng làm được mà.
Tôi nổi hứng nói tiếp, sùi cả bọt mép:
– Tiếng Việt ta gọi là Mâu Thuẫn. Lôgích học gọi là vi phạm quy luật phi mâu thuẫn vì trong trường hợp này trả lời « có thể » cũng vô lý mà trả lời « không có thể » cũng vô lý luôn. Em biết mâu thuẫn là gì không? Mâu là cái giáo. Xưa có 1 anh chàng bán cái mâu, anh nói: Mâu của tôi vô cùng sắc bén, đâm gì cũng thủng. Sau đó anh đem bán cái thuẫn, tức là cái khiên, anh lại nói: Thuẫn của tôi bền chắc vô cùng, không gì đâm thủng. Có người đi ngang bèn hỏi: thế lấy cái mâu của anh đâm vào cái thuẫn thì sao? Anh ta không trả lời được.
Hương nhìn tôi như Tử Cống nhìn Khổng Tử:
+ Anh quả là thông thái, nhưng sao càng nghĩ em càng thấy nó kỳ kỳ thế nào ấy …
– Yên lặng nào, để anh giảng tiếp về Ad Misericordiam. Thí dụ nhá: có 1 anh chàng kia thi rớt, nên anh ta năn nỉ ban giám hiệu cho anh vào Đại Học, nói rằng mẹ anh ta đang ốm nặng, trước khi chết chỉ muốn thấy anh có được mảnh bằng. Cha anh ta là 1 nhà hảo tâm đóng góp rất nhiều cho xã hội, có công với đất nước… Nếu anh mà không vào được thì chắc mẹ anh sẽ đau lòng mà chết …
Hương thút thít khóc:
+ Tội quá anh ạ, thôi thì cho anh ta …
Tôi gắt lên:
– Tội là 1 chuyện, nhưng xứng đáng hay không là chuyện khác. Bộ cứ bố làm việc công ích, mẹ đau nặng thì con cái được đặc quyền hay sao? Mà thôi, để anh dạy cái False Analogy cho em.
+ False Analogy là sao hở anh?
– Thí dụ như bạn anh, nó nói là “Học sinh đi thi phải cho phép mang theo sách. Luật sư ra toà có sách luật, kĩ sư đi làm cũng có sách tra cứu, đến như thầy đi dạy nhiều khi cũng phải liếc vào tài liệu mới giảng bài được, thế sao học sinh lại không được”?
+ Em hoàn toàn nhất trí…
– Nhất trí cái con khỉ. Em tư duy lối mòn quá. Luật sư hay kĩ sư thì đi làm, còn học sinh đi thi để thầy cô kiểm tra xem họ học và nhớ được những gì mà. Hai việc hoàn toàn khác nhau. Cái này ở yêu cầu 2 của quy luật đồng nhất hồi đi học lôgích học thầy đã cho nhiều ví dụ và phân tích nó rất hay, có điều, không hiểu sao người ta vẫn rất hay mắc lỗi này trong tư duy.
+ Anh thật là thiên tài, nói đến đâu đầu em quốc lộ ra đến đấy.
Hứng chí quá, tôi vênh mặt lên:
– Cái fallacy kế là Hypo Contrary to Fact. Thí dụ như ông thầy dạy Sử, ông ấy nói không có Quang Trung Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh thì chắc ta vẫn còn bị Bắc trị …
+ Đúng đấy anh ạ, hồi ấy vua Lê…
– Đúng cái chỗ nào? Đúng là Ngài có công, nhưng nếu không có Ngài, có thể cũng sẽ có người khác đứng lên đánh đuổi quân Thanh mà, mà biết đâu lại lấy lại được Lưỡng Quảng ấy là khác.
+ Ừ nhỉ, cái ông Quang Trung này rách việc…
Tới đây thì tôi không còn đủ kiên nhẫn:
– Hương à, cũng khuya rồi, thôi để anh dạy em 1 cái fallcy cuối rồi hôm khác ta học tiếp. Cái này gọi là Poisoning the Well, tức là Chụp Mũ. Thí dụ nhá: tên bạn chung phòng với anh, hắn nói “không nên đọc báo viết về CNTT, mấy tay nhà báo biết gì mà viết”.
Hương ngắt lời:
+ Nói thế là sai vì đâu cứ phải dân CNTT mới biết CNTT, vả lại nhiều khi nhà báo họ có bạn làm CNTT anh nhỉ. Sao bạn anh tư duy lối mòn thế.
Tôi đắc chí:
– Ừ, thằng bạn anh nó lối mòn lắm em ạ.

***
Đêm nào cũng thế, chẳng mấy chốc Hương đã sắc bén về logic chẳng kém ai. Đêm hôm nay, tôi dẫn nàng ra bờ hồ đi quanh quẩn. Đợi nàng mỏi chân, tôi dìu nàng ngồi xuống băng ghế đá thủ thỉ:
– Em à, tối nay anh không nói chuyện logic nữa, anh sẽ nói chuyện 2 đứa mình.
Hương ngắt lời:
+ Hai đứa mình đã có gì đâu mà nói hở anh?
– Em yêu, sao lại không? Mình đã đi chung với nhau cả tháng rồi, rõ ràng chúng ta rất hợp nhau.
+ Anh ơi, đừng Hasty Generalization anh nhá.
– Em nói gì thế?
+ Em nói Hasty Generalization. Đi chung với nhau đâu có nghĩa là hạp nhau hả anh. Vả lại, cũng mới chỉ có 1 tháng.
Tôi bật cười:
– Em đùa vui quá. Một tháng là đủ rồi em, đâu cần phải ăn hết cái bánh mới biết cái bánh ngon…
+ False Analogy đấy anh: em đâu phải là cái bánh. Anh so sánh khập khiễng quá.
Tôi cảm thấy gáy mình bắt đầu nóng lên:
-Hương à, em là niềm hy vọng của anh, em mà từ chối thì sao anh sống nổi, tội cho anh, cái công của anh mấy tháng nay…
+Ad Misericordiam anh ơi, tội là một chuyện, có công là một chuyện, xứng đáng hay không là chuyện khác.
Tôi thấy nóng bừng cả mặt:
– Em nói quái quỉ gì thế, em muốn logic hả? Được, anh cho em logic. Thế ai dạy em logic thê’?
+ Thì anh chứ còn ai vào đây.
– Tức là em nợ anh, không có anh thì làm sao em biết logic?
+ Hypo Contrary to Fact anh ơi. Không có anh thì có thể sẽ có người khác dạy, mà biết đâu lại chả dạy tốt hơn anh đấy chứ. Anh không nhớ Quang Trung Nguyễn Huệ à?
Tôi la lớn lên:
– Hương này, đâu phải cái gì học được cũng nên đem ra áp dụng? Đừng có nói loanh quanh nữa.
+ Anh nhá, đấy là Dicto Simplicite đấy.
Đến đây thì tôi không kiềm nổi mình nữa:
– Em có thằng nào khác phải không? Thằng nào thế, em cứ nói tuột ra cho xong.
Hương dịu dàng đáp:
+ Thì anh bạn chung phòng của anh đấy chứ ai.
– Cái gì? Nó là cái thằng Sở Khanh, anh ở chung với nó mấy năm nay, anh biết nó rõ lắm…
+ Anh đừng có Poisoning the Well nhá. Thế là chụp mũ đấy.
Tôi thở dài:
– Thôi được, anh chịu thua em. Anh bỏ cuộc. Em giỏi lắm, chỉ xin em cho biết tên chiến thắng ấy nó có cái gì hơn anh cơ chứ?
Hương mở tròn đôi mắt, thật thà đáp:
+ Anh ấy có cái áo da bò màu vàng.
Tôi giận giữ hét toáng lên: Đúng là lý luận chị là màu xám…màu xám…màu xám !!!

(st)

Posted in Logic học

Chương II Khái Niệm

A. KHÁI NIỆM.
I. KHÁI NIỆM LÀ GÌ ?
Hoạt động tư duy của con người là hoạt động nhằm nhận thức các đối tượng (các sự vật, hiện tượng) của thế giới khách quan. Trong thế giới khách quan có muôn vàn đối tượng (lớp đối tượng) và ở mỗi đối tượng đều có những dấu hiệu nhất định. Trong nhiều dấu hiệu có ở đối tượng có những dấu hiệu luôn có, những dấu hiệu không thể thiếu, nghĩa là những dấu hiệu mà không có nó thì đối tượng ấy không còn là nó, những dấu hiệu mà nhờ đó chúng ta phân biệt được đối tượng này với đối tượng khác, hay đồng nhất chúng với nhau. Những dấu hiệu ấy được gọi là những dấu hiệu bản chất (hay còn gọi là thuộc tính), chúng tồn tại một cách ổn định, phổ biến và tất yếu ở những đối tượng cùng loại. Những dấu hiệu khác là những dấu hiệu không bản chất.
Ví dụ, hành vi tội phạm (vi phạm pháp luật hình sự) được nhận biết bởi ba dấu hiệu bản chất sau:
– Hành vi ấy là hành vi nguy hiểm (đáng kể) cho xã hội .
– Hành vi ấy là hành vi có lỗi.
– Hành vi ấy là hành vi được quy định trong BLHS.
Một hành vi bất kỳ có đủ ba dấu hiệu này thì đều là hành vi tội phạm. Ngược lại, một hành vi nào đó chỉ cần thiếu một trong ba dấu hiệu trên thì đều không là tội phạm.
Khi tư duy về đối tượng con người khó có thể (và nhiều khi không cần thiết) phản ánh hết các dấu hiệu có ở các đối tượng mà chỉ ghi nhận, chỉ cố định, chỉ phản hồi những dấu hiệu bản chất mà thôi. Chẳng hạn khi phản ánh “con người” vào trong tư duy dưới hình thức khái niệm người ta chỉ phản ánh các dấu hiệu bản chất như: Có ý thức, biết sáng tạo công cụ lao động, biết dùng công cụ lao động để cải tạo thế giới, có bộ óc được tổ chức tinh vi nhất … mà không phản ánh các dấu hiệu khác như mập, ốm, cao, thấp, da màu gì, tóc màu gì… Cách thức nhận thức, phản ánh dối tượng như vậy được gọi là khái niệm.
Như vậy, khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy phản ánh các đối tượng hoặc lớp các đối tượng ở những dấu hiệu bản chất của chúng.
Nói cách khác, khái niệm về một đối tượng nào đó chính là những hiểu biết, những ghi nhận, những phản ánh của con người về những dấu hiệu bản chất của đối tượng ấy.
II. NỘI HÀM VÀ NGOẠI DIÊN CỦA KHÁI NIỆM.
Mỗi khái niệm đều có hai mặt, đó là: nội hàm và ngoại diên. Về mặt kết cấu lôgích, nội hàm được xem như là chất, còn ngoại diên được xem như là lượng của khái niệm. Nội hàm và ngoại diên có liên hệ hữu cơ với nhau để cùng diễn đạt đối tượng được khái niệm phản ánh. Mỗi nội hàm có một ngoại diên tương ứng. Muốn hiểu chính xác một khái niệm, người ta không những cần biết rõ nội hàm của nó mà còn cần chỉ ra ngoại diên của khái niệm ấy.
1. Nội hàm của khái niệm
Nội hàm của khái niệm là tập hợp những dấu hiệu bản chất của đối tượng được phản ánh trong khái niệm.
Nội hàm của khái niệm cho ta biết vật ấy là vật gì ? nó như thế nào ?
Như vậy, không phải mọi dấu hiệu của đối tượng đều được phản ánh trong nội hàm khái niệm mà chỉ là những dấu hiệu (thuộc tính) riêng biệt, bản chất mà thôi.
Khái niệm nào cũng có nội hàm.Việc định hình được nội hàm của khái niệm vào trong đầu óc là kết quả của một quá trình tư duy, tìm hiểu. Khi tiếp cận các đối tượng để nhận thức về chúng, bằng hàng loạt các thao tác lôgích của lý trí như phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá… trong đầu óc con người dần dần hình thành khái niệm về đối tượng ấy tức dần dần định hình nội hàm. Họat động nhận thức ấy không thể hoàn thiện trong một sớm, một chiều và không phải lúc nào cũng hoàn toàn chuẩn xác. Ngòai ra, chủ thể của hoạt động nhận thức cũng không phải hoàn toàn giống nhau, họ có thể bị chi phối bởi các điều kiện như năng lực tư duy, các yếu tố xã hội, nghề nghiệp, tôn giáo, chủng tộc khác nhau… Hơn nữa, bản thân đối tượng được tư duy cũng luôn vận động, thay đổi… Từ các vấn đề vừa trình bày trên cho thấy, để phản ánh về một đối tượng không phải lúc nào cũng chỉ có một khái niệm duy nhất về nó, tức là không phải chỉ có một nội hàm hoặc nội hàm ấy là bất biến. Tuy nhiên khi đưa ra các nội hàm khác nhau để phản ánh về cùng một đối tượng thì chúng không được bài xích , loại trừ nhau.
Trong khoa học pháp lý, nhiều khái niệm được xác định bằng Điều luật. Chẳng hạn nội hàm của khái niệm “tội cướp” được xác định bởi điều 151(nay là điều 133) BLHS, đó là:
– Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác.
– Làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được.
– Nhằm chiếm đoạt tài sản.
Trong trường hợp khái niệm pháp luật nào chưa được xác định rõ ràng bằng điều luật hoặc một điều luật nào đó mà qua việc nghiên cứu luật học và hoạt động thực tiễn, người ta nhận thấy chúng chưa chuẩn xác thì các khái niệm này phải được bổ sung hoàn thiện dần về nội hàm.
Việc hiểu rõ nội hàm của khái niệm và đưa ra nội hàm chính xác, rõ ràng, có ý nghĩa rất quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Chừng nào chưa hiểu rõ nội hàm của khái niệm thì chưa thể hiểu đầy đủ bản chất của đối tượng được phản ánh trong khái niệm đó và do vậy không thể hiểu chính xác về đối tượng mà ta nhận thức, hoặc nhầm lẫn giữa đối tượng này và đối tượng khác. Có thể nói nội hàm của khái niệm làm nên khái niệm, là bản thân khái niệm và qua nội hàm của khái niệm ta xác định được ngoại diên của khái niệm đó.
2. Ngoại diên (cũng có thể gọi ngoại diện) của khái niệm.
Ngoại diên của khái niệm là tập hợp những đối tượng có cùng nội hàm.
Ngoại diên của khái niệm cho biết những đối tượng khác cùng loại với nó.
Ví dụ, ta có khái niệm “vi phạm pháp luật (VPPL)” Vậy hiện tượng nào thuộc ngọai diên của khái niệm trên? Trả lời, ấy là tất cả các hiện tượng xảy ra trong thực tế mà thỏa mãn cả 03 dấu hiệu bản chất sau trong nội hàm của khái niệm này:
– Hành vi (hành động hoặc không hành động của con người) được biểu hiện ra bên ngoài. Nếu chỉ tồn tại dưới dạng ý nghĩ, ý định, tư tưởng, quan điểm, quan niệm mà chưa thể hiện bằng hành vi cụ thể thì chưa thể xem là VPPL
– Hành vi được thực hiện phải trái pháp luật, tức là trái với các quy định chứa đựng trong các QPPL nào đó. Như vậy những gì mà pháp luật không cấm, không bảo vệ, không quy định thì dù có hành vi sai trái (như sai trái đối với các quy phạm XH chẳng hạn) thì cũng không bị xem là VPPL.
– Hành vi trái pháp luật được thực hiện phải chứa đựng lỗi của chủ thể thực hiện hành vi đó, nghĩa là được thực hiện bởi các chủ thể mà các chủ thể này có khả năng nhận thức được hành vi của họ là trái pháp luật hoặc nhận thức được hậu quả xấu mà hành vi đó có thể gây ra nhưng vẫn thực hiện hành vi đó mặc dù có thể lựa chọn cách xử sự (hành vi) khác.
Như vậy, để biết một đối tượng bất kỳ có thuộc ngoại diên của một khái niệm nào đó không thì phải xét xem đối tượng có đầy đủ mọi dấu hiệu bản chất của khái niệm không.
Trong pháp luật hình sự, cấu thành tội phạm chính là tập hợp các dấu hiệu bản chất có tính bắt buộc về chủ thể, khách thể, chủ quan, khách quan của một hành vi mà Nhà nước coi là tội. Nói cách khác, trong điều luật về tội danh, cấu thành tội phạm tội danh chính là nội hàm khái niệm tội danh đó.
III. KHÁI NIỆM VÀ TỪ
Trong quá trình sống và hoạt động thực tiễn con người cần và có thể nhận thức được các đối tượng của thế giới khách quan ở những dấu hiệu bản chất của chúng, nghĩa là con người có được khái niệm về các đối tượng ấy. Để định hình, lưu giữ những hiểu biết ấy (tức các khái niệm ấy) vào trong đầu óc cũng như để chuyển đạt, trao đổi những hiểu biết của mình với những người khác, con người cần phải dùng đến phương tiện ngôn ngữ là từ, cụm từ, hệ thống từ (gọi chung là từ). Không có từ con người khó có thể trừu tượng hóa và khái quát hóa hiện thực khách quan để trên cơ sở đó định hình, lưu giữ và chuyển đạt các khái niệm. Do đó, có thể nói, khái niệm liên hệ hết sức mật thiết với từ
Bất kỳ một khái niệm nào cũng được cố định lại và thể hiện bằng từ, nghĩa là, khi định hình một khái niệm, con người sẽ đặt tên cho khái niệm đó bằng một từ hay một cụm từ. Ví dụ, để cố định, lưu giữ và thể hiện khái niệm “người đang theo học ở bậc đại học, cao đẳng” người ta dùng từ “sinh viên”. Vì vậy, khi biết được mối quan hệ này và khi nhận được tín hiệu ngôn ngữ “sinh viên” lập tức trong hoạt động tư duy của con người hình thành một cách rõ nét đối tượng mà tư duy đang hướng tới, đang phản ánh. Nếu chúng ta quan niệm ngôn ngữ là “hiện thực trực tiếp của tư duy” thì từ chính là “hiện thực trực tiếp” của khái niệm, là cái biểu hiện của khái niệm. Từ là phương tiện để vật chất hoá các khái niệm đã định hình và lưu giữ trong đầu óc con người và chuyển chúng ra ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho con người trao đổi các tư tưởng, khái niệm cho nhau, nhờ đó làm tăng tốc độ và chất lượng tư duy.
Tuy nhiên, khái niệm và từ không phải luôn đồng nhất. Sự không đồng nhất này là vì một số các lý do chủ yếu sau đây:
+ Thứ nhất: Từ là do con người tự quy ước, nó là sản phẩm của ý muốn chủ quan của con người. Con người có thể tùy ý thay đổi nó, còn khái niệm thì như đã trình bày ở trên, chính là những hiểu biết của con người về những dấu hiệu bản chất của các đối tượng, nó là ánh phản của hiện thực khách quan vào đầu óc con người và được định hình, lưu giữ ở đấy. Nói cách khác, khái niệm về các đối tượng thì do chính bản thân đối tượng quy định, còn từ thì do con người tự quy ước, tự thoả thuận mà ra. Do vậy, dễ thấy ở các cộng đồng người có hệ thống ngôn ngữ khác nhau thì các từ là khác nhau nhưng khái niệm về các đối tượng về cơ bản là khá giống nhau và nhờ đó mà loài người hiểu được nhau. Khi trao đổi, chuyển giao các tri thức cho nhau thì về bản chất là con người chuyển cho nhau các khái niệm chứ không phải là các từ – các khái niệm mà đã được quy ước, đã được “gửi gắm” vào các từ.
+ Thứ hai: Ngay trong một hệ thống ngôn ngữ thì một khái niệm có thể được diễn đạt bởi nhiều từ và một từ có thể thể hiện nhiều khái niệm.
Một khái niệm có thể được diễn đạt bởi nhiều từ. Chẳng hạn, khái niệm dùng để chỉ “sự chấm dứt sự hoạt động về mặt sinh học ở một con người” được diễn đạt bởi các từ: chết, từ trần, hy sinh, tạ thế, viên tịch, quy tiên, tử, nghẻo, đứt bóng … Trong trường hợp trên, về phương diện khái niệm (lôgích) các từ ấy là tương đương, nghĩa là chúng thay thế được cho nhau. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, giữa các từ này là có sự khác biệt tương đối về mặt ngữ nghĩa hoặc tuỳ thuộc vào các văn cảnh khác nhau mà chúng có thể mang những sắc thái biểu đạt khác nhau, mang những dấu ấn khác nhau về tình cảm, tâm trạng…. Khi sử dụng chúng một cách tùy tiện, không có chọn lọc thì có thể đưa lại các hiệu quả khác nhau về tâm lý và thậm chí, đôi khi cả về nhận thức. Chẳng hạn, người ta không thể chấp nhận được trong lễ truy điệu một anh hùng liệt sỹ, người đọc điếu văn đọc rằng: liệt sỹ Nguyễn Văn Nam đã nghẻo ở chiến trường Miền Đông Nam bộ. Ngược lại, người ta cũng không thể chấp nhận được trong biên bản của hội đồng thi hành án tử hình lại viết rằng: tử tội Trương Văn Cam đã hy sinh ở trường bắn Thủ Đức. Mặc dù từ nghẻo và từ hy sinh đều cho chúng ta một nhận biết chính xác rằng, các chủ thể được phản ánh đều đã chấm dứt sự hoạt động về mặt sinh học nhưng dưới một góc độ khác, rỏ ràng ý nghĩa của các từ này là không giống nhau.
Trường hợp ngược lại, ấy là một từ nhưng lại diễn đạt nhiều khái niệm. Ta biết khái niệm được thể hiện bằng từ, nghĩa là thông qua từ người ta nhận diện một khái niệm nào đó, hoặc để phân biệt khái niệm này với khái niệm khác. Nhưng số lượng các đối tượng trong thế giới khách quan là vô cùng lớn và theo đó, khái niệm về chúng trong tư duy của con người là không nhỏ, trong lúc đó số lượng từ thì có hạn. Do vậy có hiện tượng cùng một từ nhưng lại thể hiện nhiều khái niệm, nhiều cách hiểu.
Ví dụ, trong đời thường người ta có thể hiểu “tội phạm” là từ dùng để chỉ người đã gây ra vụ án nghiêm trọng nào đó. Trong một số sách báo người ta vẫn viết “truy nã tội phạm”, “cảm hoá tội phạm”. Ngay trong Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học ấn hành năm 1992, trang 993 cũng coi tội phạm là “kẻ phạm tội”, “tội nhân”. Trong lúc đó, trong Luật Hình sự Việt Nam “tội phạm” chưa bao giờ lại là khái niệm dùng để chỉ người mà chỉ được dùng để chỉ về hành vi !
Ngoài ra, các từ trong nhiều trường hợp còn được hiểu theo hàm ý, ngụ ý, ẩn ý …Ví dụ, “ Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê (…) Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống ! (…) Chết là thường. Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã “ ( Nam Cao )
Trong ví dụ trên, từ “chết” vừa hiểu theo hàm ý vừa hiểu theo nghĩa thực.
Vì những lý do dẫn đến sự dị biệt giữa từ và khái niệm như vừa nêu và để tránh sự ngụy biện, nhầm lẫn trong nhận thức, lập luận, suy nghĩ, một mặt cần phải hiểu rõ khái niệm, mặt khác cần thấy được mối quan hệ giữa khái niệm và từ nhằm sử dụng từ một cách chính xác, hợp lý khi diễn đạt các khái niệm đã định hình trong tư duy. Ngày nay, nhiều ngành khoa học đã xây dựng các hệ thống thuật ngữ (hay từ điển chuyên ngành) của mình, những thuật ngữ này là từ hay nhóm từ có tính đơn nghĩa, tức là chỉ dùng để diễn đạt một khái niệm tương ứng được sử dụng cho ngành khoa học đó. Trong khoa học pháp lý, về mặt kỹ thuật xây dựng các văn bản pháp luật, các điều luật người ta luôn yêu cầu ở các văn bản, ở các điều luật ấy các khái niệm (thuật ngữ) phải được hiểu theo một nghĩa, nhằm tránh tình trạng mỗi người, mỗi nơi hiểu và vận dụng một cách khác nhau. Yêu cầu này được thể hiện rõ trong Điều 5 Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật: “Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải đơn giản, dễ hiểu. Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung, thì phải được định nghĩa trong văn bản.”
B. ĐỊNH NGHĨA KHÁI NIỆM
I. KHÁI QUÁT VỀ ĐỊNH NGHĨA KHÁI NIỆM.
Bất cứ quá trình tư duy nào cũng phải sử dụng, cũng phải đụng chạm đến các khái niệm. Một lập luận, một chứng minh, một bác bỏ, một kết quả nhận thức có được từ một suy luận bất kỳ có tin cậy được hay không, con người ta có thể nhất trí với nhau về một vấn đề nào đó hay họ bất đồng về chúng …nhiều khi phụ thuộc vào các khái niệm tham gia vào trong các quá trình này.
Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, sự không giống nhau trong nhận thức về các khái niệm, sự dị biệt trong việc sử dụng ngôn từ để cố định và chuyển tải các khái niệm … dẫn đến nhiều khó khăn cho hoạt động tư duy, làm cho tốc độ, chất lượng tư duy giảm sút và trong không ít trường hợp bị rối loạn, bế tắc.
Để hạn chế những bất lợi này cho hoạt động tư duy, đặc biệt là trong những lĩnh vực đòi hỏi có độ chính xác cao, quy mô tác động và điều chỉnh lớn… từ lâu con người đã nghĩ tới một thao tác tư duy cực kỳ quan trọng và hữu ích: định nghĩa khái niệm.
Ngay từ thời Hi Lạp cổ, trong nhiều tác phẩm, bài viết, các học giả đã tìm cách định nghĩa các khái niệm. Ngày nay nhình lại, ta thấy, trong lịch sử phát triển của nền văn minh nhân loại và suy cho cùng cũng là lịch sử phát triển của tư duy thì ở bất cứ khoa học nào, từ khoa học tự nhiên, khoa học xã hội – nhân văn đến khoa học thực nghiệm cũng đều có và cũng cần đến định nghĩa khái niệm. Người ta khó hình dung được rằng một ngành khoa học nào đó có thể tồn tại và phát triển mà ở đó không có các định nghĩa khái niệm, hoặc có quá nhiều các ĐN không chuẩn xác. Thật vậy, trong toán học ta bắt gặp các định nghĩa như: đạo hàm, quỹ tích, giai thừa… Trong sinh vật học có các định nghĩa về di truyền, biến dị…Trong hóa học có các định nghĩa về axít, bazơ, chất xúc tác, bão hoà….Trong ngôn ngữ học có các định nghĩa về danh từ, tính từ, câu đơn, câu phức…Trong luật học có định nghĩa về nhà nước, bộ máy nhà nước, pháp luật, quy phạm pháp luật, vi phạm pháp luật, tội phạm…Điều này phần nào cho thấy, định nghĩa khái niệm tồn tại phổ biến và không thể phủ nhận trong hoạt động nhận thức, hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn của các ngành khoa học khác nhau và trong đời sống hàng ngày, bởi, nếu không có ý nghĩa hoặc không cần thiết thì cố nhiên nó đã không tồn tại hàng chục ngàn năm nay ở các ngành khoa học!.
Định nghĩa khái niệm là hình thức phản ánh hịên thực khách quan, do đó, một mặt nó là sản phẩm của hoạt động nhận thức, mặt khác, đến lượt mình, nó trở thành công cụ của nhận thức. Có định nghĩa, định nghĩa đúng, tốt, nhất quán sẽ giúp con người hiểu thấu đáo, rõ ràng, chính xác và thống nhât các đối tượng, tránh được nguy cơ cùng một đối tượng mà ai muốn hiểu thế nào cũng được.
Tuy nhiên, cũng cần thấy sự định nghĩa khái niệm trong khoa học, đặc biệt là các ngành khoa học xã hội và các ngành khoa học còn trẻ là một việc làm rất khó khăn, rất phức tạp. Dễ thấy, trong nhiều ngành khoa học, nhiều khái niệm chưa được định nghĩa một cách chính thức, hoặc không chính xác, không thống nhất. Việc thiếu vắng các định nghĩa, định nghĩa không chính xác, không thống nhất làm cho trong nhiều các trường hợp lập luận, chứng minh, bác bỏ (tức các thao tác cơ bản của tư duy) rơi vào tình trạng rối loạn, sai lầm, không thống nhất bởi vì tuyệt đại đa số các thao tác tư duy ấy phải dùng các định nghĩa khái niệm làm lý do, làm căn cứ, làm cơ sở, nói cách khác là làm xuất phát điểm.
• Các KN không được định nghĩa.
Ttrong đời thường không phải khái niệm nào cũng nhất thiết phải được định nghĩa. Tuy nhiên trong lĩnh vực khoa học, đặc biệt là khoa học pháp lý thì về nguyên tắc, các khái niệm cần phải được định nghĩa càng sớm càng tốt, càng nhiều càng hay.Việc các khái niệm nào đó không được định nghĩa một cách chính thức (ở Việt Nam, trong lĩnh vực pháp luật các định nghĩa được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật dưới dạng các quy phạm định nghĩa) sẽ gây nhiều khó khăn cho nhà giải thích pháp luật, nhà áp dụng pháp luật và những người có liên quan. Sau đây là một ví dụ minh hoạ.
Trong mục “chat” với bạn đọc trên báo Pháp luật Tp.HCM số 592 ngày 02-5-2002 đăng bài của thẩm phán Nguyễn Ngọc Quang, Phó chánh án TAND tỉnh Bình Thuận với đầu đề”Thẩm phán khổ lắm” với nội dung cơ bản về vụ án như sau: A là công nhân. B là cô gái bán cà phê chưa đủ 16 tuổi (trẻ em theo BLHS). Hai người quen nhau đã lâu. Một hôm A sang quán B chơi, thấy quán không có ai bèn nắm tay B, B cho nắm. Ôm ngang lưng rồi ôm vai, B cũng cho luôn. A cởi cúc áo sờ ngực B, B cũng không phản đối. A bèn kéo B…ra phía sau quán. Đến lúc này B phản đối, sau đó làm đơn thưa A ra CA, rằng A hiếp dâm B.
Công tác điều tra làm rõ A không có hành vi hiếp dâm nhưng lời khai của A và B về các hành vi của A là trùng khớp nhau như mô tả ở trên. Trong hồ sơ của cơ quan điều tra ghi:”A đã có hành vi sờ mó bộ phận sinh dục của B” và vì vậy Cơ quan điều tra khẳng định A đãcó hành vi dâm ô đối với trẻ em nên đề nghị VKS truy tố A theo tội dâm ô đối với trẻ em (đây là tội danh mới được quy định trong BLHS 1999, đ116: Người nào đã thành niên mà có hành vi dâm ô đối với trẻ em, thì…. -NV). VKS đồng quan điểm với Cơ quan điều tra và đã truy tố A theo tội danh này.
Trước Toà, Luật sư bào chữa cho A lại lập luận rằng, không thể kết luận thân chủ của ông phạm tội này được bởi không có cơ sở để coi hành vi của thân chủ của ông là hành vi dâm ô vì từ trước đến nay luật nước ta chưa hề đưa ra định nghĩa thế nào là bộ phận sinh dục, hoặc quy định bộ phận nào là bộ phận sinh dục (cũng là một dạng của ĐN khái niệm). Đại diện VKS đáp trả: Ngực con người là bộ phận sinh dục chứ không việc gì phải bàn cãi nữa. LS phản đối: Ông nói vậy đâu được. Này nhé, nếu anh em cán bộ cơ quan ông cởi trần đánh bóng chuyền, bà con đi biển về thấy thế nói rằng:”Ồ, mấy ông cán bộ VKS để bộ phận sinh dục ra ngoài trông bất lịch sự quá” thì ông có chịu không? Đại diện VKS phản ứng: Nhưng ngực anh em cơ quan tôi là ngực đàn ông, còn đây là ngực đàn bà cơ mà. Ngực đàn bà không phải là ngực đàn ông, thưa ông LS!. LS đáp trả: Và thưa ông đại diện VKS, do vậy mà ông suy ra, ngực đàn bà là bộ phận sinh dục chứ gì? (đây là phép suy luận sai lầm, do đó không thể khẳng định kết luận được rút ra từ suy luận ấy là đúng đắn – NV).
Kết thúc bài viết này thẩm phán Nguyễn Ngọc Quang viết: Chúng tôi ngồi ở giữa và quả thật cảm thấy rất lúng túng, rất khổ. Cho nên đành phải tìm cách hoãn phiên toà và sau đó thận trọng làm một văn bản trưng cầu ý kiến để có được câu trả lời chắc chắn: Ngực con người nói chung và ngực phụ nữ nói riêng có phải là bộ phận sinh dục không, rồi sau đó mới có hướng giải quyết. Ai bảo thẩm phán sướng?!
Có thể mẩu chuyện trên là chuyện vui (tán gẫu), tuy nhiên theo chúng tôi, nó đặt ra một vấn đề rất nghiêm túc xét dưới góc độ khoa học, dưới góc độ pháp lý. Giả sử rằng, sờ mó bộ phận sinh dục của trẻ em là dấu hiệu buộc phải có để định tội danh này thì việc định nghĩa thế nào là bộ phận sinh dục là không thể không có trong pháp luật nói chung và trong pháp luật hình sự nói riêng, bởi, như trong câu chuyện trên, nếu Toà xử theo hướng quan điểm của vị đại diện VKS thì đó là theo quan niệm, theo cách hiểu của riêng ông ta chứ không phải là quan niệm, là cách hiểu, là ý chí của nhà nước, mà điều này thì không thể chấp nhận được theo quan điểm pháp chế XHCN. Còn nếu HĐXX xử theo quan niệm của vị luật sư thì tình hình cũng tương tự.Và, phải chăng sự thận trọng của HĐXX của phiên toà này là cần thiết, là đáng trân trọng? và phải chăng sự thiếu vắng định nghĩa trong trường hợp này dẫn tới hậu quả là những người tham gia tố tụng có quan điểm trái ngược nhau trong việc đánh giá bản chất vụ án, xác định sai tội danh?
• Các định nghĩa không chuẩn xác.
Trong trường hợp đã đưa ra các định nghĩa một cách chính thức nhưng định nghĩa ấy không chuẩn xác về nội dung hay hình thức cũng dẫn đến các hậu quả tương tự. Để chứng minh cho nhận định này chúng tôi xin nêu lại định nghĩa khái niệm con chung tại Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình nước ta (có hiệu lực từ 01- 01- 2001): “Con chung là con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân (1) hoặc có thai trong thời kỳ đó (2)”. Chắc chắn khi giải quyết các vấn đề liên quan đến con chung (tranh chấp về con chẳng hạn) các nhà áp dụng pháp luật phải dựa vào định nghĩa này. Giả định tình huống sau:Anh A kết hôn hợp pháp với chị C. Một tháng sau chị C có bầu. Trong thời gian chị C có bầu anh A đâm ra hư đốn, phá tán tài sản, ngoại tình nhiều lần, đánh đập chị C tàn nhẫn… nên chị C xin ly hôn và Tòa án đã cho họ ly hôn. Một thời gian ngắn sau khi quyết định cho ly hôn của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, chị C (vẫn đang mang bầu) kết hôn với anh B. Một tháng sau kết hôn với anh B, chị C sinh bé D. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp con chung thì Toà án sẽ phán quyết như thế nào? D là con chung của A với C hay là con chung của B với C? Nếu Toà án xử cho D là con chung của B với C (có lý, vì D được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của họ chứ không sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của A và C) thì A có thể kháng án (cũng có lý, vì D được có thai (hoài thai) trong thời kỳ hôn nhân của A với C chứ không phải trong thời kỳ hôn nhân của B với C) và ngược lại !?. Rõ ràng, định nghĩa này không ổn. Đó là chưa nói đến các bất cập khác của ĐN này mà chúng tôi có thể sẽ đề cập tới trong một bài viết khác.
• Các định nghĩa không thống nhất.
Chúng ta không phủ nhận một thực tế là, cùng một sự vật, hiện tượng nhưng có nhiều định nghĩa khác nhau, tùy vào yêu cầu cụ thể của ngành khoa học ấy, tùy theo mức độ nhận thức của người làm định nghĩa, tùy hoàn cảnh lịch sử cụ thể khi làm định nghĩa đó, thậm chí tuỳ quan điểm của giai cấp thống trị xã hội như trong một số định nghĩa liên quan đến luật học, triết học, chính trị học….
Ví dụ , trong hoá học khi định nghiã về nước, người ta có thể đưa ra các ĐN như: “ Nước là hợp chất được tạo bởi hai nguyên tử Hiđro và một nguyên tử Oxi”; “Nước là chất lỏng không màu, không mùi, không vị”; “ Nước là chất lỏng không duy trì sự cháy”… Trong pháp luật nước ta, với khái niệm tội phạm cũng có thể gặp các ĐN khác nhau như: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm các lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa “ ( Điều 8 BLHS)
Hoặc trong một số sách báo khác tội phạm cũng đã được định nghĩa:
-Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt.
-Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và được quy định trong BLHS.
-Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi , được quy định trong Bộ luật Hình sự
Theo chúng tôi, trong cùng một ngành khoa học, đặc biệt trong cùng một hệ thống pháp luật của cùng một quốc gia, để tránh việc gây khó hiểu, rối rắm, lộn xộn … khi tiếp cận các định nghĩa, nếu không thật sự cần thiết thì không nên dùng nhiều định nghĩa khác nhau cho cùng một đối tượng nhận thức.
Hơn thế nữa, với các đối tượng thuộc các lĩnh vực gần gủi nhau, chẳng hạn các ngành luật gần nhau, nhằm tránh tình trạng dùng khái niệm (chuẩn) của nghành luật này để xem xét các vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của nghành luật khác thì trong bản thân từng nghành luật ấy phải sớm đưa ra các khái niệm làm cơ sở cho việc hiểu chính xác các quy định liên quan đến các khái niệm của riêng nghành luật đó.
Ví dụ, trong điều 20 BLDS nước ta định nghĩa “Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên. Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên”, nhưng trong pháp luật Hôn nhân và gia đình lại cho phép “… không bắt buộc nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn….” (điểm 1.a Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23-12-2000 của Hội đồng Thẩm phán Toà án Nhân dân Tối cao). Như vậy, với định nghĩa này và với quy định này buộc người ta phải hiểu như sau:
Một là, Nhà nước ta cho phép người chưa thành niên kết hôn nếu lấy định nghĩa trong BLDS làm chuẩn.
Hai là, Nếu không như thế, nghĩa là không phải Nhà nước ta cho phép người chưa thành niên kết hôn thì khái niệm người thành niên trong pháp luật Hôn nhân và trong pháp luật Dân sự là không đồng nhất, theo đó khái niệm năng lực hành vi đầy đủ trong quan hệ pháp luật Dân sự và trong quan hệ pháp luật Hôn nhân là không giống nhau. Điều này tất yếu dẫn tới các hệ quả rất rắc rối, phức tạp trong giải quyết các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân trong các cuộc hôn nhân khi người nữ tham gia quan hệ hôn nhân chưa đủ 18 tuổi.
Những điều trình bày trên đặt ra vấn đề: Những khái niệm nào đó chưa được định nghĩa thì các nhà khoa học cần phải định nghĩa nó. Những khái niệm đã định nghĩa rồi nhưng định nghĩa không chính xác hoặc do có sự thay đổi, có sự phát triển của tự nhiên, của xã hội hoặc của tư duy đã làm cho các định nghĩa này không còn phù hợp nữa thì cần phải thay đổi, bổ sung, hoàn thiện. Trường hợp có nhiều định nghĩa, nhiều cách hiểu về cùng một sự vật, hiện tượng, trong cùng một lĩnh vực thì các dấu hiệu bản chất được đưa vào các định nghĩa ấy phải không được mâu thuẫn, không được bài xích lẫn nhau. Cuối cùng, trong các lĩnh vực khác nhau có thể có và cần phải có các cách hiểu khác nhau thì với từng lĩnh vực ấy cần đưa ra các định nghĩa tương ứng nhằm làm cho nhận thức của mọi người về chúng đạt được sự tách bạch, chính xác, thống nhất.
Trong công tác pháp luật rất nhiều tư duy pháp lý nhất thiết phải dựa vào định nghĩa khái niệm đã được xác định ở các điều luật, các văn bản quy phạm pháp luật. Mọi người nói chung và những người có liên quan đến công tác pháp luật nói riêng, phải có đủ trình độ đưa ra các định nghĩa đúng, nhất quán và khi giải thích pháp luật, khi áp dụng pháp luật phải giải thích, phải hiểu chính xác, thống nhất các khái niệm đã được định nghĩa đó.
II. ĐỊNH NGHĨA KHÁI NIỆM LÀ GÌ?
Định nghĩa khái niệm là thao tác lôgích qua đó chỉ rõ ngoại diên của khái niệm được định nghĩa. Ví dụ, định nghĩa “Tù có thời hạn” :
“Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định. Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm”(Điều 33 BLHS 1999).
Căn cứ vào định nghĩa này cho phép người ta biết được thế nào là tù có thời hạn, đồng thời phân biệt nó về mặt ngoại diên với các loại hình phạt khác, mặc dù chúng đều là hình phạt.
III. CẤU TRÚC CỦA ĐỊNH NGHĨA.
Định nghĩa thường có dạng A là B, trong đó A là khái niệm cần được định nghĩa và B là phần dùng để định nghĩa .
Trong ví dụ trên thì “tù có thời hạn” là khái niệm cần được định nghĩa (A) và “việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định. Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm” là phần dùng để định nghĩa (B).
Ngoài cấu trúc A là B thì còn có một số cấu trúc khác nhưng ít phổ biến hơn.
IV. CÁC CÁCH ĐỊNH NGHĨA.
Có nhiều cách (hình thức) để định nghĩa một khái niệm. Sau đây là các cách định nghĩa thường được sử dụng trong luật học.
1. Định nghĩa theo tập hợp ( thông qua loại và hạng).
Định nghĩa theo tập hợp là định nghĩa trong đó nêu lên một khái niệm đã biết, gần gũi và có ngoại diên bao chứa đối tượng cần định nghĩa, sau đó chỉ ra các dấu hiệu bản chất, đặc thù của đối tượng cần được định nghĩa để phân biệt nó với các đối tượng khác cùng lệ thuộc ngoại diên của khái niệm đã biết ấy.
Cấu trúc lôgích của định nghĩa này có thể được mô hình hóa như sau:
a = A + những dấu hiệu riêng của a
Ví dụ: “Nước là chất lỏng không màu, không mùi, không vị”.Trong định nghĩa này, để định nghĩa “nước” người ta nêu lên một khái niệm đã biết, đã được định nghĩa rồi, đó là “chất lỏng”. Khái niệm này gần gủi (về tính chất) với khái niệm cần định nghĩa. Cụ thể ở đây người ta không nêu chất, chất rắn hay chất khí mặc dù chúng cũng là các dạng vật chất. Nếu định nghĩa nước là chất không màu, không mùi, không vị thì người ta có thể coi pha lê và ôxi cũng là nước vì nó thoả mãn định nghĩa này!
Khái niệm này (chất lỏng) là khái niệm có bao chứa đối tượng cần định nghĩa. Tuy nhiên khái niệm chất lỏng, ngoài nước còn bao chứa một số đối tượng khác. Và, để phân biệt được nước với các đối tượng khác cùng thuộc ngoại diên chất lỏng (như xăng, dầu, rượu, bia…), nhà làm định nghĩa đã chỉ ra các dấu hiệu bản chất, đặc thù của nước, đó là: không màu, không mùi, không vị. Các dấu hiệu này (hoặc tập hợp các dấu hiệu này) chỉ có ở “nước” mà không thể có ở các đối tượng khác, mặc dù chúng cũng đều là chất lỏng.
Xét một định nghĩa khác. “Tù có thời hạn là hình phạt buộc người bị kết án phải bị giam từ ba tháng đến hai mươi năm”(Điều 25 BLHS năm 1985). Để xác định tù có thời hạn là gì? Nhà làm luật đưa ra khái niệm hình phạt. Về nguyên tắc, hình phạt là khái niệm đã được biết, đã được định nghĩa rồi (đáng tiếc là trong BLHS 1985 khái niệm này lại không được định nghĩa, mặc dù nó là khái niệm rất cơ bản của Luật Hình sự. Trong BLHS 1999 khái niệm này đã được định nghĩa – NV). Hình phạt là khái niệm gần gủi với khái niệm cần định nghĩa. Cụ thể ở đây không nêu là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước vì khái niệm này rộng (xa) hơn nhiều so với hình phạt, bao chứa cả hình phạt và trong nhiều nghành luật khác cũng có biện pháp cưỡng chế của Nhà nước. Do trong hình phạt lại còn có cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung; trong hình phạt chính lại cũng có nhiều loại. Vì vậy, để tách biệt hình phạt được gọi dưới tên tù có thời hạn với các hình phạt khác, nhà làm luật buộc phải đưa ra dấu hiệu bản chất, đặc trưng, dấu hiệu mà các hình phạt khác không có: buộc người bị kết án phải bị giam từ ba tháng đến hai mươi năm.
Như vậy, đây là cách định nghĩa mà nhà làm định nghĩa chỉ ra một cách gián tiếp các đối tượng nghiên cứu ( thuộc ngoại diên của khái niệm được định nghĩa) thông qua việc chỉ ra các dấu hiệu bản chất trong nội hàm của khái niệm phản ánh về chúng. Cách định nghĩa này về cơ bản gồm hai bước:
+ Xác định xem đối tượng thuộc loại nào bằng cách nêu lên một khái niệm đã biết, gần gũi và có ngoại diên bao chứa đối tượng cần định nghĩa.
+ Chọn trong nội hàm của khái niệm cần định nghĩa một dấu hiệu nào đó (hoặc tập hợp một số dấu hiệu nào đó) mà những đối tượng cùng loại khác không có.
Đây là cách định nghĩa cơ bản, chuẩn xác, rất khoa học, có tầm khái quát cao, mức độ uyển chuyển trong việc vận dụng vào thực tiễn rất lớn và được dùng phổ biến trong nhiều nghành khoa học và trong đời thường. Tuy nhiên, để làm được định nghĩa theo cách này là cực kỳ khó khăn và rất đáng tiếc, trong thực tế không phải mọi khái niệm đều có thể định nghĩa được bằng cách này.
2. Định nghĩa thông qua liệt kê.
Định nghĩa thông qua liệt kê là định nghĩa trong đó liệt kê tất cả các đối tượng được khái niệm phản ánh.
Cấu trúc lôgích của định nghĩa này có thể được mô hình hóa như sau:
A = (a1, a2 …., an)
Ví dụ: Hàng thừa kế thứ nhất gồm : vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết (điều 679 BLDS).
Đây là cách định nghĩa nhằm thẳng vào ngoại diên của khái niệm mà không phải gián tiếp thông qua nội hàm để làm bộc lộ ngoại diên như cách định nghĩa trên. Mặc dù cách định nghĩa này khá phổ biến, đơn giản, tiện lợi, có tính cơ động nhưng tính khoa học, tính chặt chẽ và tính khái quát không cao.
Trong một số các trường hợp, nếu dùng cách định nghĩa theo tập hợp gặp nhiều khó khăn, hoặc khi áp dụng nó trong thực tiễn, do tính khái quát rất cao của hình thức định nghĩa này mà sẽ có một số trường hợp cá biệt, ngoại lệ không thể đúng với định nghĩa hoặc gây nên những trở ngại nhất định cho hoạt động thực tiễn thì nhà làm định nghĩa có thể chấp nhận cách định nghĩa liệt kê, miễn là có thể dùng nó để giải quyết những trường hợp nhất thời, cụ thể nào đó. Ví dụ, trong luật Phòng, chống ma tuý (năm 2000) nhà làm luật đưa ra định nghĩa “tiền chất” tại khoản 4, điều 2 như sau: “Tiền chất là các hoá chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma tuý, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành”. Thật ra, trong khoản 4 này phần trước cụm từ “được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành” đã là một định nghĩa về tiền chất rồi. Phần còn lại được hiểu là: Còn cụ thể chất nào là tiền chất sẽ được Chính phủ quy định sau (trong Nghị định chẳng hạn).
Giả định chúng ta chấp nhận định nghĩa Tiền chất là các hoá chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma túy là đúng thì nước cũng chính là….. tiền chất vậy! Và do đó không thể thực thi Điều 3 cũng của Luật này bởi Điều luật này cấm sản xuất, vận chuyển, mua bán …..tiền chất.
Định nghĩa này có thể đúng xét về mặt khoa học nhưng chắc chắn không thể áp dụng được vào thực tế. Và phải chăng vì vậy mà nhà làm luật phải thêm vào phần “được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành”? để nhờ đó một số chất mặc dù thoả mãn định nghĩa trên nhưng vẫn được xem không phải là tiền chất, vì vậy, Điều 3 trở nên khả thi hơn?. Và thật vậy, trong Danh mục IV của Nghị định số 67/2001 NĐ-CP ngày 01-10-2001 của Chính phủ, với cách định nghĩa liệt kê, Chính phủ đã chỉ ra một cách cụ thể các chất nào được hiểu (được coi) là tiền chất và … nước đã không được liệt kê ra.
Rỏ ràng, bằng cách định nghĩa liệt kê, trong không ít các trường hợp người ta có thể “né” được những điều khó xử, có thể linh hoạt ứng phó với những bất cập mà khi sử dụng định nghĩa theo tập hợp có thể gặp phải. Tiện lợi, nhưng dưới góc độ khoa học thì lại “có vấn đề”.
Trong thực tế, có không ít các trường hợp tương tự như tình huống trên dẫn tới tình trạng “vênh” khi đặt các văn bản quy phạm pháp luật trong tính hệ thống, trong tính chỉnh thể của nó, dẫn tới tình trạng luật nói “có” còn nghị định lại nói “không” hoặc Luật chờ Nghị định, tức là chờ một loại “giấy phép con”. Luật nhưng là “của Chính phủ”.
Ví dụ thứ hai: Trong luật cạnh tranh mà Nhà nước ta vừa ban hành (tháng 12 năm 2004) tại Điều 39 đã không có một định nghĩa chung về “cạnh tranh không lành mạnh” dưới hình thức định nghĩa tập hợp mà đã dùng lối định nghĩa liệt kê, theo đó liệt kê ra một số hành vi bị cấm, tức bị coi là cạnh tranh không lành mạnh.
Ta biết, cuộc sống nói chung và thương trường nói riêng thì luôn vận động. Nếu ở thời điểm này chỉ có chừng ấy hành vi bị cấm nhưng trong tương lai lại xuất hiện hành vi khác cũng cần bị cấm thì nhà làm luật có đủ sức mãi chạy theo nó để sửa luật, để liệt kê thêm?, và, trong khi hành vi cần bị cấm mới đã xuất hiện mà luật chưa được sửa đổi chắc hẳn sẽ xuất hiện “khoảng trống pháp luật”, tức, không có quy phạm pháp luật để điều chỉnh?!
Theo chúng tôi, trong một văn bản pháp luật nói riêng và trong hệ thống pháp luật nói chung mà có quá nhiều định nghĩa dạng liệt kê thì nó cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến hệ quả tất yếu là tình trạng “chết yểu” của nhiều quy phạm pháp luật, nhiều văn bản quy phạm pháp luật – hiệu lực thời gian của chúng quá ngắn ngủi!.
Ngoài ra, cách định nghĩa liệt kê còn có mặt hạn chế nữa là số đối tượng thuộc B phải là hữu hạn và không nên quá nhiều. Ví dụ, người ta không thể định nghĩa số chẳn là các số sau đây: 2,4,6,8,10,12……… cũng như thật bất tiện khi định nghĩa cá gồm: cá lóc, cá rô, cá trê, cá chép….
Tóm lại, trong hai cách định nghĩa trên xét dưới các góc độ khác nhau thì cách nào cũng có ưu điểm của nó nhưng xét một cách toàn cục thì cách định nghĩa thứ nhất có nhiều lợi thế hơn. Một số trong những lợi thế của cách định nghĩa theo tập hợp so với cách định nghĩa liệt kê là ở chổ tính khái quát, tính bao hàm, tính dự liệu cao và do đó tính uyển chuyển (không cứng nhắc) của nó rất lớn, dẫn tới việc áp dụng nó một cách lâu dài và thuận lợi hơn. Điều đó có nghĩa là khi nhà làm định nghĩa đã đưa ra một định nghĩa theo tập hợp mà chuẩn xác thì dù có phát sinh một đối tượng mới, một hành vi mới người ta vẫn có thể dựa vào định nghĩa này để điều chỉnh nó, miễn là đối tượng mới, hành vi mới … nằm trong ngoại diên của khái niệm đã được định nghĩa.
Theo chúng tôi, với những văn bản quy phạm pháp luật có phạm vi điều chỉnh rộng, có tính ổn định lâu dài như Bộ luật, Luật thì nên đưa vào nhiều định nghĩa cách này, còn những văn bản “dưới luật” thì trong những trường hợp không thể khác được vẫn có thể chấp nhận cách định nghĩa liệt kê.
Ngoài ra, về kỹ thuật lập pháp cũng có vấn đề cần bàn thêm là: Nếu trong quá trình làm luật, nhà làm luật tiên liệu được rằng, khi đưa vào Luật một định nghĩa theo tập hợp nào đó mà nó sẽ gặp phải những trở ngại nào đó như đã nói ở trên và chắc chắn phải dùng đến Nghị định để cụ thể hoá định nghĩa này bằng một định nghĩa liệt kê thì nên chăng không nên đưa vào luật một định nghĩa theo tập hợp. Xin trở lại với khoản 4, điều 2 Luật Phòng, chống ma tuý. Viết như trong khoản 4 này thì tất yếu phải dẫn chiếu đến “Danh mục do Chính phủ ban hành”. Vậy thì cần gì phải định nghĩa: Tiền chất là các hoá chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma túy. Nên chăng chỉ cần viết: Tiền chất là những chất được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành. Đến lượt mình, Chính phủ, bằng định nghĩa liệt kê cứ thế liệt kê ra. Làm được như thế này thì Luật sẽ ngắn gọn hơn, tránh được hiện tượng “phiên dịch” văn bản tiếng Việt này bằng một văn bản tiếng Việt khác và nhiều phiền toái khác nữa.
V. CÁC QUY TẮC ĐỊNH NGHĨA.(chỉ dành cho cách định nghĩa theo tập hợp)
Quy tắc 1: Định nghĩa phải cân đối, nghĩa là khái niệm được định nghĩa và phần dùng để định nghĩa phải có ngoại diên bằng nhau.
Vi phạm quy tắc này có thể dẫn đến những sai lầm:
a. Định nghĩa quá hẹp, nghĩa là số lượng các phần tử nằm trong ngoại diên của B nhỏ hơn số phần tử nằm trong ngoại diên của A. (A > B).
Ví dụ 1: “Giáo viên là người làm nghề dạy học ở bậc phổ thông”
Ví dụ 2: “Đồng phạm là hai người cùng cố ý thực hiện một tội phạm” là những định nghĩa quá hẹp.
b. Định nghĩa quá rộng, nghĩa là số lượng các phần tử nằm trong ngoại diên của A nhỏ hơn số phần tử nằm trong ngoại diên của B. (A < B ).
Ví dụ, “đường kính là đoạn thẳng nối hai điểm của một đường tròn” là định nghĩa quá rộng vì hoá ra cả các dây cung cũng là đường kính bởi chúng củng nối hai điểm của một đường tròn!. Và, nếu như vậy thì rõ ràng số phần tử nằm trong B là quá lớn. Do đó, định nghĩa quá rộng. Để làm cho định nghĩa được cân đối, nhà làm định nghĩa đưa thêm dấu hiệu “và đi qua tâm”. Nhờ vào việc đưa thêm dấu hiệu này mà số phần tử trong B đã giảm đáng kể, nhờ đó định nghĩa trở nên cân đối.
Xét định nghĩa khác: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội” là định nghĩa quá rộng vì có nhiều hành vi khác cũng nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải là tội phạm.
Nếu ta đưa thêm dấu hiệu “có lỗi ” thì định nghĩa này vẫn rộng vì nếu như vậy thì các hành vi vi phạm pháp luật khác cũng bị xem là tội phạm.
Chỉ khi ta đưa thêm dấu hiệu “được quy định trong BLHS” thì định nghĩa trở thành thoả mãn quy tắc này.
Vi phạm quy tắc này đều dẫn tới hậu quả nghiêm trọng là làm cho người ta hiểu không đúng, không chính xác về các đối tượng được định nghĩa dẫn tới nguy cơ là nếu dựa vào nó người ta có thể đồng nhất các đối tượng mà đúng ra không được đồng nhất.
Quy tắc 2: Định nghĩa không được lòng vòng, nghĩa là chỉ được sử dụng những khái niệm đã biết, đã được định nghĩa để định nghĩa.
Vi phạm quy tắc này có thể dẫn đến sai lầm:
a. Định nghĩa vòng quanh, nghĩa là dùng B để định nghĩa A sau đó dùng A để định nghĩa B.
Ví dụ 1: Bộ máy Nhà nước là bộ máy được tạo thành bởi các cơ quan Nhà nước còn các Cơ quan Nhà nước là các bộ phận hợp thành Bộ máy Nhà nước.
Ví dụ 2: Lề đường là phần đất và không gian được giới hạn bởi lòng đường và các công trình xây dựng hợp pháp và lòng đường là phần đất và không gian được giới hạn bởi hai lề đường.
b. Định nghĩa luẩn quẩn, nghĩa là dùng chính A để định nghĩa A.
Ví dụ: Công xưởng là nơi sản xuất có các công cụ kiểu công xưởng.
Ví dụ 2: Chứng cứ buộc tội là chứng cứ khẳng định một hành vi là tội.
Cả hai dạng sai lầm trên đều có đặc điểm chung là trong phần dùng để định nghĩa có chứa ngay khái niệm cần được định nghĩa và nó đều không giúp người ta hiểu gì hơn về khái niệm cần được định nghĩa. Định nghĩa mắc lỗi này thì coi như chưa định nghĩa gì cả.
Quy tắc 3: Định nghĩa phải ngắn gọn, nghĩa là không nên nêu những dấu hiệu nào đó mà người ta có thể suy ra từ các dấu hiệu khác đã được nêu, những dấu hiệu mà không có nó người ta vẫn nhận diện được một cách chính xác đối tượng đang được định nghĩa và không có nó người ta vẫn phân biệt được đối tượng được định nghĩa với các đối tượng khác.
Giả định có định nghĩa: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi , được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và phải chịu hình phạt”.
Ở ví dụ này người làm định nghĩa đã nêu thừa dấu hiệu “do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện” vì trước đó đã nêu dấu hiệu “có lỗi “, tức là dấu hiệu có lỗi đã bao hàm trong nó dấu hiệu “do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý” rồi, bởi, nếu người không có năng lực trách nhiệm hình sự thì hẳn nhiên hành vi của họ đã được xem là không có lỗi.
Vậy, trong Điều 8 BLHS nhà làm luật nêu dấu hiệu: do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý có bị thừa không?. Không thừa. Đơn giản là vì trước đó không nêu dấu hiệu có lỗi!
Ngoài ra, theo chúng tôi, trong định nghĩa này còn nêu thừa dấu hiệu “phải chịu hình phạt” vì một hành vi bất kỳ chỉ cần thoả mãn ba dấu hiệu: nguy hiểm (đáng kể) cho xã hội, có lỗi và được quy định trong BLHS thì hành vi đó đương nhiên bị coi là tội phạm và cũng chỉ cần dựa vào ba dấu hiệu này người ta đã đủ để phân biệt được tội phạm (vi phạm pháp luật hình sự) với các hành vi vi phạm pháp luật khác rồi. Vậy, đưa thêm dấu hiệu này vào định nghĩa là không cần thiết (có nó hay không có nó thì cũng bị xem là tội phạm) mà chỉ làm rối hơn hoạt động nhận thức. Phải chăng vì vậy mà trong điều 8 BLHS nhà làm luật cũng không hề nêu dấu hiệu này? Phải chăng đây không phải là dấu hiệu bản chất của tội phạm mà chỉ là nguyên tắc của luật hình sự? Phải chăng nó là dấu hiệu thứ phát? Là hậu quả của việc thực hiện tội phạm? Là anh làm nên “cái nhân” này thì anh chịu “cái quả” kia. “Cái quả“ ấy, theo chúng tôi, không là bộ phận làm nên “cái nhân”! Còn nếu cho rằng: "chịu hình phạt có nghĩa là bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều bị đe dọa có thể phải chịu biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt." (Giáo trình Đại học Luật Hà Nội năm 2000, tr.41 do đó coi chịu hình phạt là dấu hiệu bản chất (thuộc tính) của tội phạm thì lại càng sai lầm vì “có thể phải chịu biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt” thì cũng có nghĩa là “có thể không phải chịu biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt”. Như vậy là có thể có mà cũng có thể không ở một tội phạm. Vậy, dấu hiệu này không thể là dấu hiệu bản chất (thuộc tính) vì thuộc tính luôn được hiểu là “đặc tính vốn có của một sự vật (hiện tượng- NV) nhờ đó sự vật tồn tại và qua đó con người nhận thức được sự vật, phân biệt được sự vật này với sự vật khác” (Từ điển tiếng Việt,Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Ngôn ngữ, tr 949)
Quan niệm sai lầm rằng, chịu hình phạt là thuộc tính của tội phạm dẫn tới sự lý giải về mối quan hệ giữa chúng tỏ ra rất lúng túng, bất nhất, mâu thuẩn và thiếu tính thuyết phục như trong trường hợp sau đây: “Thông thường, một hành vi đã thừa nhận là tội phạm thì phải bị xử lý bằng hình phạt hình sự. Do đó, nếu hành vi khi đã không bị xử lý bằng hình phạt hình sự thì không thể bị coi là tội phạm. Không có tội phạm thì không có hình phạt hình sự và ngược lại. Thế nhưng, trong một số trường hợp đặc biệt, tội phạm không phải chịu hình phạt vì người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt (Điều 48 BLHS) hoặc miễn chấp hành hình phạt (Điều 51 BLHS). Trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc miễn chấp hành hình phạt không phải là nhằm xác định không có tội phạm. Ở đây, tội phạm đã xảy ra, nhưng vì một lý do nào đó mà không cần phải áp dụng hình phạt. Tóm lại, tội phạm bao giờ cũng phải đủ bốn dấu hiệu cơ bản là: hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, phải được quy định trong luật hình sự, phải bị xử lý bằng hình phạt. Bốn dấu hiệu này là tiêu chuẩn phân biệt có tội phạm hay không có tội phạm, cũng là cở sở để xác định xem phải áp dụng biện pháp cưỡng chế của luật hình sự hay cần truy cứu trách nhiệm pháp lý khác đối với mỗi hành vi mà pháp luật cấm thực hiện hoặc buộc phải thực hiện thường xảy ra trong xã hội”. (Trang 58-59 . Giáo trình LHSVN phần chung, Trường Đại học tổng hợp Hà Nội. Khoa Luật. Hà Nội 1993)
Minh họa cho quy tắc “định nghĩa phải ngắn gọn” ta có thể tham khảo thêm định nghĩa hình vuông trong toán học.
Một hình được gọi là hình vuông tất yếu phải có tất cả các dấu hiệu bản chất sau đây, nghĩa là chỉ cần thiếu dù là một trong các dấu hiệu này thì hình ấy không phải là hình vuông: là tứ giác; có bốn góc vuông; có các cặp cạnh đối song song và bằng nhau; có các cạnh kề liên tiếp bằng nhau; có hai đường chéo bằng nhau; hai đường chéo cắt nhau ở trung điểm của mỗi đường; hai đường chéo là trục đối xứng cùa hình vuông; hai đường chéo cắt nhau tạo thành các góc vuông; điểm cắt nhau của hai đường chéo là tâm của đường tròn nội tiếp, đồng thời là ngoại tiếp …
Thế nhưng khi định nghĩa khái niệm hình vuông, các nhà định nghĩa không nhất thiết phải nêu toàn bộ các dấu hiệu, dù đó có là dấu hiệu bản chất của đối tượng cần định nghĩa. Thật vậy, ta có thể gặp định nghĩa sau đây về hình vuông: Hình vuông là tứ giác có bốn cạnh bằng nhau và có một góc vuông.
Tuân thủ quy tắc này, nhà làm định nghĩa không những không được đưa vào định nghĩa những dấu hiệu không bản chất mà cả với những dấu hiệu bản chất thì cũng chỉ cần nêu vừa đủ các dấu hiệu nào đó thôi, miễn sao giúp người tiếp cận định nghĩa nhận diện đúng đối tượng được định nghĩa và phân biệt nó với các đối tượng khác. Điều này giúp cho tư duy của họ không bị rối và cũng giúp cho họ tiết kiệm được tư duy, thời gian và trí nhớ. Có thể vì vậy mà người ta gọi định nghĩa khái niệm là khái niệm của khái niệm.
Quy tắc 4: Định nghĩa phải chuẩn xác, rõ ràng (không được mơ hồ).
Vi phạm quy tắc này thường thấy ở các định nghĩa mà ở đó người làm định nghĩa sử dụng câu chử không rõ ràng, không chặt chẽ, không đúng văn phạm hoặc sử dụng các từ ngữ hoa mỹ, nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ của từ hoặc của câu mà hậu quả của nó là không thực hiện được chức năng của một định nghĩa khoa học: xác định nội hàm và loại biệt được ngoại diên của khái niệm, không giúp hiểu được đối tượng cần được định nghĩa, gây hiểu nhầm hoặc mỗi người hiểu mỗi cách.
Ví dụ, “Mua dâm là hành vi giao cấu có trả tiền” (trong dự thảo Pháp lệnh phòng chống mại dâm). Vậy, có giao cấu nhưng không trả bằng tiền mà trả bằng vàng, bằng các lợi ích vật chất khác thì sao? Chắc chắn không phải là mua dâm. Vì về nguyên tắc, sau khi đã đưa ra định nghĩa thì định nghĩa đó được xem như một đẳng thức mà vế phải được dùng để xác tín vế trái. Chúng cân bằng nhau, hoán đổi được cho nhau. Do đó, mọi biến động của vế phải, tất yếu kéo theo sự biến động của vế trái. Trong trường hợp vừa nêu, vế phải đã biến động. Có thể nói, dùng từ “trả tiền” ở đây là không chặt, không bao quát.
Quy tắc 5: Không nên định nghĩa phủ định.
Quy tắc này yêu cầu không nên đưa vào định nghĩa những dấu hiệu mà những dấu hiệu này không có ở đối tượng của khái niệm được định nghĩa. Ví dụ, “Quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân không phải là quản lý một xí nghiệp cơ khí” Đây là một định nghĩa phủ định. Trong định nghĩa này chỉ mới vạch ra sự tách rời của ngoại diên khái niệm “Quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân” và khái niệm “Quản lý một xí nghiệp cơ khí” nhưng rõ ràng không nêu lên được những dấu hiệu bản chất của đối tượng cần được định nghĩa và do đó người ta vẫn chưa hiểu được thật sự “Quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân” là gì. “Không phải là quản lý một xí nghiệp cơ khí” Vậy nó là gì? là quản lý một xí nghiệp dược phẩm? là quản lý một xí nghiệp may mặc? là quản lý một xí nghiệp chăn nuôi?….. Không biết! Khái niệm này coi như chưa được định nghĩa.
Cần lưu ý một điều là, ở quy tắc này nói là “không nên” định nghĩa phủ định chứ không phải là không được. Theo chúng tôi định nghĩa được phủ định nếu sự phủ định đó cho phép giới hạn được ngoại diên và làm rõ được dấu hiệu bản chất của đối tượng cần định nghĩa. Trong khoa học, và đặc biệt là trong khoa học tự nhiên có một số khái niệm cho phép và thậm chí bắt buộc phải định nghĩa theo cách này và người ta chấp nhận chúng. Ví dụ:
– Khí trơ là khí không tham gia phản ứng hoá học.
– Hai đường thẳng song song là hai đường thẳng không bao giờ cắt nhau. (trong hình học phẳng)

(Bài đã đăng trên Tạp Khoa học Pháp lý số 02-2005 và trên « Báo cáo Khoa học » của Hội thảo về giảng dạy lôgích học của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tại Hà Nội từ ngày 25-12-2006)
Ths. Lê Duy Ninh
Trường Đại học luật Tp. HCM

Posted in Logic học