Chương 2: MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH VIỆT NAM

Chương 2:
MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH VIỆT NAM
I- MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Tố tụng hành chính
Tố tụng hành chính là toàn bộ hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cá nhân, của cơ quan Nhà nước và tổ chức trong việc giải quyết vụ án hành chính, cũng như trình tự do pháp luật quy định đối với việc khởi kiện, thụ lý, giải quyết vụ án hành chính và thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính.
2. Luật tố tụng hành chính
Luật tố tụng hành chính là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của nước ta, tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tố tụng hành chính phát sinh giữa Tòa án với những người tham gia tố tụng, những người tiến hành tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án hành chính nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan và tổ chức.
Luật tố tụng hành chính quy định các hành vi tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát, bên khởi kiện, bên bị kiện và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra sự thật khách quan của vụ án, trên cơ sở đó Tòa án có thể tiến hành việc giải quyết vụ án được đúng đắn. Ðể đạt được điều đó, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong công tác xét xử không những phải nắm vững pháp luật nội dung mà còn phải nắm vững pháp luật tố tụng hành chính.
3. Vụ án hành chính
Vụ án hành chính là vụ án phát sinh tại Tòa hành chính có thẩm quyền do có cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức khởi kiện ra trước Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
4. Quyết định hành chính
Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.
5. Hành vi hành chính
Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
12
6. Quyết định kỷ luật buộc thôi việc
Quyết định kỷ luật buộc thôi việc là văn bản thể hiện dưới hình thức quyết định của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức thuộc quyền quản lý của mình.
7. Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức
Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức là những quyết định, hành vi quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi cơ quan, tổ chức đó.
8. Đương sự
Đương sự bao gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan. 9. Người khởi kiện
Người khởi kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, việc lập danh sách cử tri.
10. Người bị kiện
Người bị kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, lập danh sách cử tri bị khởi kiện.
11. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nhận hoặc được Toà án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
II- ÐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH VIỆT NAM
Khoa học pháp lý xác định rằng sự khác nhau của những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh là tiêu chuẩn cơ bản để phân định các ngành luật. Mỗi ngành luật chỉ điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội. Nhóm quan hệ xã hội đó được gọi là đối tượng điều chỉnh của ngành luật, cách thức để ngành luật đó tác động vào nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội đó gọi là phương pháp điều chỉnh. Ðây là hai yếu tố để khẳng định một ngành luật có độc lập hay không, và là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa các ngành luật trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.
13
1. Ðối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng hành chính
Trong lĩnh vực tố tụng hành chính, khi Tòa án giải quyết các vụ án hành chính thì phát sinh các quan hệ giữa Tòa án với Viện kiểm sát, các đương sự và với những người tham gia tố tụng khác. Các quan hệ này xuất hiện từ khi có cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức (tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân) gọi chung là người khởi kiện nộp đơn kiện đến Tòa án có thẩm quyền và được Tòa án thụ lý giải quyết, và quan hệ này tồn tại cho đến khi việc giải quyết vụ án kết thúc. Ở mỗi giai đoạn tố tụng, quyền và nghĩa vụ của Tòa án và của các chủ thể khác được Luật tố tụng hành chính xác định. Ðiều này có nghĩa là bằng các quy phạm pháp luật, Luật tố tụng hành chính đã tác động đến các hành vi tố tụng của Tòa án và những người tham gia tố tụng, buộc các chủ thể này phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhất định.
Như vậy, đối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng hành chính là các quan hệ xã hội phát sinh giữa Tòa án nhân dân với Viện kiểm sát nhân dân, các cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức trong quá trình Tòa án giải quyết các vụ án hành chính để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức này.
2. Phương pháp điều chỉnh của Luật tố tụng hành chính
Mỗi ngành luật có phương pháp điều chỉnh khác nhau, đó là cách thức tác động lên các quan hệ xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội đó trong khuôn khổ của pháp luật, bảo đảm cho các chủ thể trong quan hệ đó thực hiện được các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định, ví dụ như:
– Luật hành chính điều chỉnh bằng phương pháp mệnh lệnh;
– Luật dân sự điều chỉnh bằng phương pháp bình đẳng;
– Luật hình sự điều chỉnh bằng phương pháp quyền uy.
Trong luật tố tụng hành chính có hai phương pháp điều chỉnh:
(1) Thứ nhất, phương pháp quyền uy, phụ thuộc thể hiện trong mối quan hệ giữa Tòa án với các chủ thể khác;
(2) Thứ hai, phương pháp bình đẳng thể hiện trong mối quan hệ giữa các đương sự trong cùng một vụ án. Các đương sự hoàn toàn bình đẳng khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, mà Tòa án nhân dân là chủ thể bảo đảm thực hiện sự bình đẳng đó.
III- ĐẶC ĐIỂM, NHIỆM VỤ, MỤC ĐÍCH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH VIỆT NAM
1. Ðặc điểm
Luật tố tụng hành chính Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau đây:
– Một là, Luật tố tụng hành chính Việt Nam quy định quá trình tài phán hành chính phải trải qua hai giai đoạn là: giai đoạn tiền tố tụng và giai đoạn tố tụng. Ðây là điểm đặc thù của Luật tố tụng hành chính mà các ngành Luật hình thức khác không có .
14
Giai đoạn tiền tố tụng: đây là giai đoạn bắt buộc phải trải qua để có thể thực
hiện được giai đoạn tố tụng. Giai đoạn này được các cơ quan Nhà nước, cán bộ,
công chức Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật khiếu nại, tố cáo nói
riêng và pháp luật hành chính nói chung và theo thủ tục hành chính, chớ không phải
do Tòa án thực hiện bằng thủ tục tố tụng. Ðiều này đã được quy định trong Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính và hiện tại là trong Luật tố tụng hành
1
chính.
Giai đoạn tố tụng: là giai đoạn tài phán do cơ quan tiến hành tố tụng có
thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.
– Hai là, tố tụng hành chính Việt Nam là tố tụng viết, nghĩa là các chứng cứ mà các bên nêu ra trong tố tụng hành chính phải được thể hiện bằng hình thức văn bản; các chứng cứ này được trao đổi công khai, tức là các đương sự có quyền được đọc, sao chép và xem các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp.
Quan hệ giữa các đương sự (người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trong vụ án hành chính là quan hệ bình đẳng theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.
2 Nhiệm vụ và mục đích của Luật tố tụng hành chính Việt Nam
Cũng như bất kỳ một ngành luật nào khác, Luật tố tụng hành chính có những
nhiệm vụ, mục đích cụ thể của mình.
2.1. Nhiệm vụ của Luật tố tụng hành chính
Các nhiệm vụ của Luật tố tụng hành chính Việt Nam bao gồm :
– Quy định thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các vụ án
hành chính;
– Quy định thành phần những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong từng giai đoạn của tố tụng hành chính; thành phần hội đồng xét xử ở mỗi cấp;
– Quy định trình tự, thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án hành chính;
– Quy định trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ trong vụ án hành chính;
– Quy định trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm vụ án hành chính;
– Quy định thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
– Quy định trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án đối với các vụ án hành chính.
1 Theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính trước đây thì tất cả các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đều bắt buộc phải trải qua giai đoạn tiền tố tụng. Hiện tại theo Luật tố tụng hành chính thì chỉ có 2 loại khiếu kiện hành chính (1.Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; và 2.Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh) là bắt buộc phải trải qua giai đoạn tiền tố tụng, còn các loại khiếu kiện hành chính còn lại thì không nhất thiết phải trải qua giai đoạn tiền tố tụng.
15
2.2. Mục đích của Luật tố tụng hành chính
Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ của mình, luật tố tụng hành chính
Việt Nam nhằm hướng tới các mục đích sau đây:
– Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức
thông qua việc thực hiện chức năng của mình;
– Bảo đảm cho việc giải quyết các vụ án hành chính được đúng đắn, kịp thời;
– Bảo đảm cho việc thi hành các bản án, các quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về vụ án hành chính được nghiêm chỉnh, có hiệu lực và hiệu quả.
IV – CÁC NGUYÊN TẮC CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 1. Khái niệm các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính Việt Nam 1.1. Khái niệm
Nguyên tắc của pháp luật là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo toàn bộ các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật cũng như hệ thống các ngành luật cụ thể.
Luật tố tụng hành chính là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật nước ta, bởi vậy nó cũng có những nguyên tắc xuyên suốt trong tất cả các chế định pháp luật của nó.
Các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính Việt Nam là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ hệ thống các chế định tố tụng và biểu thị những nội dung đặc trưng nhất của ngành luật này.
1.2. Ý nghĩa của các nguyên tắc
Việc thực hiện các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính mang tính chất bắt buộc chung đối với tất cả mọi người, mọi cơ quan và tổ chức. Việc tuân thủ triệt để các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính trước hết tạo điều kiện cho cơ quan xét xử tiến hành tố tụng một cách thuận lợi và nhanh chóng; đồng thời nó còn bảo đảm cho đương sự có điều kiện để thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, trên cơ sở đó mà các lợi ích hợp pháp của bản thân đương sự được tôn trọng.
Ngoài ra, việc quán triệt các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính trong tất cả các giai đoạn tố tụng có tác dụng ngăn chặn mọi hành vi vi phạm pháp luật và những biểu hiện tiêu cực trong quá trình giải quyết vụ án hành chính.
1.3. Phân loại các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính Việt Nam
Việc phân loại các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính thành từng nhóm chỉ có tính chất tương đối. Bởi vì, các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính đều có vai trò chỉ đạo toàn bộ hệ thống các chế định của Luật tố tụng hành chính và đều liên hệ mật thiết với nhau.
Căn cứ vào nội dung và ý nghĩa của các nguyên tắc, có thể chia chúng thành hai nhóm như sau :
Nhóm thứ nhất: nhóm nguyên tắc chung:
Nhóm thứ hai: nhóm nguyên tắc điều chỉnh các hoạt động riêng biệt của tố tụng hành chính.
16
2. Nội dung các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính Việt Nam
2.1. Nhóm nguyên tắc chung
1) Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự2
Đương sự tự mình hoặc có thể nhờ luật sư hay người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Toà án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
2) Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính3
Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Toà án không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp.
Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác.
Các đương sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ án hành chính. Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
3) Nguyên tắc về tiếng nói, chữ viết dùng trong tố tụng hành chính4 Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hành chính là tiếng Việt.
Người tham gia tố tụng hành chính có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình; trong trường hợp này, phải có người phiên dịch.
Nguyên tắc này nói lên quyền bình đẳng giữa các dân tộc và bảo đảm cho các đương sự thuộc các dân tộc có điều kiện diễn đạt rõ ràng các yêu cầu, đưa ra các chứng cứ, lý lẽ bằng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Trên cơ sở đó, họ thực hiện được đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.
4) Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân
Hội thẩm nhân dân là những người do cơ quan quyền lực Nhà nước bầu hoặc cử ra. Việc tham gia của Hội thẩm nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án là một biểu hiện của sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan Nhà nước.
Nguyên tắc này được quy định trong Hiến pháp, trong Luật tổ chức TAND và được cụ thể hóa tại Ðiều 13 Luật tố tụng hành chính như sau.
Theo quy định của pháp luật thì khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán, đây là điều kiện quan trọng để Hội thẩm nhân dân phát huy vai trò là người
2 Điều 11 Luật tố tụng hành chính năm 2010. 3 Điều 10 Luật tố tụng hành chính năm 2010. 4 Điều 22 Luật tố tụng hành chính năm 2010.
17
đại diện cho nhân dân tham gia công tác xét xử của Tòa án, đồng thời bảo đảm cho tiếng nói của người dân có tính chất quyết định trong công việc xét xử của Tòa án.
Ðể thực hiện tốt nguyên tắc này, Hội thẩm nhân dân cần nâng cao ý thức trách nhiệm, nâng cao kiến thức pháp luật, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính và các quy định pháp luật liên quan.
5) Nguyên tắc Tòa án xét xử công khai5
Việc xét xử vụ án hành chính được tiến hành công khai. Trường hợp cần giữ bí mật nhà nước hoặc giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Toà án xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai.
Tòa án xét xử công khai nên mọi người đều có quyền đến dự phiên tòa. Ðó là điều kiện để người dân tìm hiểu pháp luật, nắm vững pháp luật, góp phần đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật.
Nguyên tắc này bảo đảm cho người dân giám sát được hoạt động xét xử của Tòa án; đồng thời tạo điều kiện cho Tòa án có thể thông qua hoạt động xét xử thực hiện việc truyên truyền, giáo dục pháp luật.
6) Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số
Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Yêu cầu của nguyên tắc này là việc xét xử các vụ án ở các cấp xét xử phải được tiến hành theo chế độ hội đồng xét xử, chớ không do một cá nhân thực hiện, bảo đảm việc xét xử được thận trọng, khách quan và chính xác.
Với nguyên tắc này, nếu thành phần Hội đồng xét xử không đúng theo quy định của pháp luật là vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng, và đó là căn cứ để Tòa án cấp trên hủy bản án hoặc quyết định của Hội đồng xét xử.
Hội đồng xét xử vụ án hành chính ở từng cấp xét xử được quy định như sau : – Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm6
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp đặc biệt, Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân.
– Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm7
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán.
– Thành phần Hội đồng giám đốc thẩm và tái thẩm8
1. Hội đồng giám đốc thẩm Toà án cấp tỉnh là Ủy ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh; khi tiến hành giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
5 Điều 17 Luật tố tụng hành chính năm 2010.
6 Điều 128 Luật tố tụng hành chính năm 2010.
7 Điều 192 Luật tố tụng hành chính năm 2010.
8 Điều 218 và Điều 238 Luật tố tụng hành chính năm 2010.
18
thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia; Chánh án Tòa án cấp tỉnh làm Chủ tọa phiên tòa giám đốc thẩm.
2. Hội đồng giám đốc thẩm của Toà hành chính Toà án nhân dân tối cao gồm ba Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; khi tiến hành giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải có đủ ba Thẩm phán tham gia; Chánh toà Tòa hành chính Tòa án nhân dân tối cao phân công một Thẩm phán làm Chủ tọa phiên tòa giám đốc thẩm.
3. Hội đồng giám đốc thẩm Toà án nhân dân tối cao là Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; khi tiến hành giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao làm Chủ tọa phiên tòa giám đốc thẩm.
Hội đồng xét xử quyết định theo đa số, riêng quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Uỷ ban Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.
7) Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc chỉ đạo, bao trùm nhất được thể hiện trong tất cả các hoạt động tố tụng nói chung cũng như trong tố tụng hành chính nói riêng. Nguyên tắc này được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hành chính, từ những quy định chung cho đến những quy định cụ thể. Ðây là nguyên tắc pháp lý cơ bản nhất trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước và công dân được quy định tại Ðiều 12 Hiến pháp 1992. Trong tố tụng hành chính, nguyên tắc này bảo đảm cho việc giải quyết các vụ án hành chính đúng pháp luật và đươc biểu hiện cụ thể như sau:
– Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hành chính9
Mọi hoạt động tố tụng hành chính của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan phải tuân theo các quy định của Luật tố tụng hành chính.
– Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Toà án10
Bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành chính đã có hiệu lực pháp luật
phải được thi hành và phải được cá nhân, cơ quan, tổ chức tôn trọng.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Toà
án phải nghiêm chỉnh chấp hành.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Toà án, cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ có liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Toà án phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó.
9 Điều 4 Luật tố tụng hành chính năm 2010. 10 Điều 21 Luật tố tụng hành chính năm 2010.
19
8) Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật11
Khi xét xử vụ án hành chính, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp, cản trở Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ.
Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật không chỉ là một nguyên tắc cơ bản được quy định trong Hiến pháp của nước ta, mà còn được quy định trong Hiến pháp của nhiều nước trên thế giới. Tuy việc quy định có khác nhau về hình thức nhưng về nội dung thì cơ bản là giống nhau. Ví dụ: khoản 1 Ðiều 97 Hiến pháp nước Cộng hòa liên bang Ðức năm 1959 quy định: Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Ở Việt Nam, nguyên tắc này có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu. Ðiều 69 Hiến pháp năm 1946 nước ta đã quy định: Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp. Hiến pháp năm 1959 ra đời, nguyên tắc này được ghi nhận một cách rõ nét hơn: Khi xét xử, Tòa án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Ðiều 100 Hiến pháp 1959 và Ðiều 4 Luật tổ chức Tòa án nhân dân nam 1960). Ðiều 131 Hiến pháp 1980 và Ðiều 6 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 khẳng định cụ thể hơn nguyên tắc này: Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật được thể hiện ở các mặt:
– Thứ nhất: khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm không bị ràng buộc bởi kết luận của Viện kiểm sát; không bị chi phối bởi ý kiến của nhau. Thẩm phán, Hội thẩm phải chịu trách nhiệm đối với ý kiến của mình về từng vấn đề của vụ án.
– Thứ hai: Thẩm phán và Hội thẩm độc lập cũng có nghĩa là không một cơ quan, tổ chức nào can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm.
Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử phải gắn liền với việc tuân thủ pháp luật. Ðiều đó có nghĩa là khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để đưa ra ý kiến, quyết định của mình về từng vấn đề của vụ án hành chính, chứ không được tùy tiện hay bằng cảm tính.
Quy định này được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 vừa nhằm mục đích bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa vừa thể hiện tính chất độc lập, không phụ thuộc vào các cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào trong hoạt động của Tòa án nhân dân. Trong thực tế có thể có những vi phạm đối với nguyên tắc độc lập xét xử này. Song đó là những vi phạm mang tính chất cá nhân, tư lợi, họ lợi dụng danh nghĩa cơ quan Ðảng, cơ quan Nhà nước, hoặc sự ảnh hưởng của mình nhằm tác động vào cơ quan xét xử, ép buộc cơ quan xét xử thực hiện theo yêu cầu của họ.
11 Điều 14 Luật tố tụng hành chính năm 2010.
20
Ðể đảm bảo nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Nhà nước nên quan tâm đảm bảo một số điều kiện cần thiết như:
– Các Thẩm phán phải được đào tạo có chất lượng về nghiệp vụ xét xử hành chính.
– Pháp điển hóa những văn bản pháp luật về nội dung để tạo điều kiện cho các Thẩm phán áp dụng luật một cách dễ dàng.
– Tăng cường hơn nữa tính độc lập trong hoạt động xét xử bằng cách cụ thể hóa trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.
– Từng bước nghiên cứu để sửa đổi một số thủ tục tố tụng nói chung, và tố tụng hành chính nói riêng nhằm tạo điều kiện cho Hội đồng xét xử có điều kiện nghị án không chỉ trên cơ sở những chứng cứ có trong hồ sơ, mà còn căn cứ chủ yếu vào diễn biến tại phiên tòa.
2.2. Nhóm các nguyên tắc điều chỉnh các hoạt động riêng biệt của tố tụng hành chính
Nhóm nguyên tắc này bao gồm các nguyên tắc đặc trưng của hoạt động tố tụng hành chính, bao gồm các nguyên tắc cơ bản sau đây :
1) Nguyên tắc tiền tố tụng hành chính
Ðây là nguyên tắc đặc thù nhất của Luật tố tụng hành chính, là điểm khác cơ
bản so với các ngành luật tố tụng khác.
Theo nguyên tắc này, trước khi khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa án có thẩm quyền, đương sự phải khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định của Luật khiếu nại tố cáo.
Theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính trước đây thì tất cả các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đều bắt buộc phải trải qua giai đoạn tiền tố tụng.
Hiện tại theo Luật tố tụng hành chính thì chỉ có 2 loại khiếu kiện hành chính: 1.Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; và 2.Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là bắt buộc phải trải qua giai đoạn tiền tố tụng; còn các loại khiếu kiện hành chính còn lại thì không nhất thiết phải trải qua giai đoạn tiền tố tụng.
Khoản 2 và khoản 3 Điều 103 Luật tố tụng hành chính quy định:
– Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó.
– Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với cách giải quyết khiếu nại.
21
2) Nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp, thu thập chứng cứ12
Đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng
minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Người khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp bản sao quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, bản sao quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có), cung cấp các chứng cứ khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; Trường hợp không cung cấp được thì phải nêu rõ lý do.
Người bị kiện có nghĩa vụ cung cấp cho Toà án hồ sơ giải quyết khiếu nại (nếu có) và bản sao các văn bản, tài liệu mà căn cứ vào đó để ra quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc có hành vi hành chính.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Toà án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Luật định.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Toà án, Viện kiểm sát tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Toà án, Viện kiểm sát; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Toà án, Viện kiểm sát biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ.
3) Nguyên tắc đối thoại trong tố tụng hành chính
Điều 12 Luật tố tụng hành chính quy định: Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Toà án tạo điều kiện để các đương sự đối thoại về việc giải quyết vụ án.
4) Nguyên tắc việc khởi kiện vụ án hành chính không làm ngưng hiệu lực của quyết định hành chính.
V- QUAN HỆ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
1 – Khái niệm và đặc điểm của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính a) Khái niệm
Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh, trong đó quyền và nghĩa vụ của những người tham gia quan hệ này được Nhà nước xác định và bảo đảm thực hiện. Như vậy, một quan hệ xã hội muốn trở thành quan hệ pháp luật thì phải được các quy phạm pháp luật điều chỉnh tác động vào.
Pháp luật tố tụng hành chính nước ta quy định đương sự có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, Viện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần, nếu không có ai khởi kiện. Như vậy, khi những người có quyền khởi kiện, khởi tố vụ án hành chính
12 Điều 8, 9 và 72 Luật tố tụng hành chính năm 2010.
22
thực hiện quyền khởi kiện, khởi tố của mình, Tòa án thụ lý giải quyết vụ án thì tại Tòa án xuất hiện các quan hệ giữa Tòa án, Viện kiểm sát với các đương sự và với những người tham gia tố tụng khác. Các quan hệ này do Luật tố tụng hành chính điều chỉnh và được gọi là quan hệ pháp luật tố tụng hành chính.
Vậy, quan hệ pháp luật tố tụng hành chính là quan hệ xã hội phát sinh giữa Tòa án, Viện kiểm sát với các đương sự và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án hành chính và được các quy phạm pháp luật tố tụng hành chính điều chỉnh.
b) Ðặc điểm của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính
Trong quan hệ pháp luật tố tụng hành chính, chủ thể chính là Tòa án – cơ quan nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước để xét xử. Là cơ quan tiến hành tố tụng, có chức năng giải quyết các khiếu kiện hành chính cho nên Tòa án có một địa vị pháp lý đặc biệt. Ðịa vị pháp lý của Tòa án thể hiện ở nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong quá trình tố tụng. Các quyết định của Tòa án trong quá trình xét xử đều có tính chất bắt buộc chung đối với những người tham gia tố tụng. Bởi vậy, giữa Tòa án và những người tham gia tố tụng tồn tại quan hệ quyền uy, phụ thuộc, và cũng từ khi có sự tham gia của Tòa án thì mối quan hệ đó mới trở thành mối quan hệ pháp luật tố tụng hành chính.
Xét về nội dung trong quan hệ pháp luật tố tụng hành chính thì các quyền chủ quan của đương sự và những người tham gia vụ án thực hiện ở từng giai đoạn tố tụng chỉ thể hiện ý chí của một bên, như: quyền khởi kiện, khởi tố vụ án, quyền kháng cáo, quyền rút đơn khởi kiện, quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính bị khiếu kiện v.v… Ðồng thời mỗi hành vi tố tụng của những người tham gia vụ án thực hiện quyền của mình là cơ sở làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của chủ thể khác, như hành vi khởi kiện vụ án của người khởi kiện là cơ sở làm phát sinh quyền và nghĩa vụ thụ lý vụ án để giải quyết của Tòa án.
2. Các thành phần của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính a) Chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính
Chủ thể của quan hệ pháp luật là những con người cụ thể, những tổ chức tham gia vào quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, thực hiện các quyền chủ quan và nghĩa vụ pháp lý nhất định.
Chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính bao gồm Tòa án nhân dân và những người tham gia tố tụng có liên quan đến quá trình Tòa án giải quyết vụ án hành chính (Viện kiểm sát nhân dân, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch), trong đó quyền và nghĩa vụ của Tòa án cũng như các chủ thể khác được pháp luật xác định và bảo đảm thực hiện.
b) Nội dung của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính
Cũng như các quan hệ pháp luật xã hội chủ nghĩa khác, nội dung của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính cũng bao gồm quyền chủ quan, và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hành chính. Ðó là quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong việc thực hiện chức năng xét xử của Nhà nước; quyền và nghĩa vụ khác của những người tham gia tố tụng ở các vị trí tố tụng khác nhau trong việc tiến hành các hành vi tố tụng khi Tòa án giải quyết vụ án hành chính.
23
Quyền chủ quan của mỗi chủ thể trong quan hệ pháp luật tố tụng hành chính đều được bảo đảm thực hiện bằng nghĩa vụ tương ứng của chủ thể khác. Ðể một chủ thể thực hiện được quyền chủ quan của mình thì các chủ thể khác phải làm tròn nghĩa vụ pháp lý đặt ra đối với họ; đồng thời đối với mỗi chủ thể thì việc làm tròn nghĩa vụ pháp lý của mình là việc tạo điều kiện để thực hiện quyền chủ quan của họ.
c) Khách thể của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính
Trong quan hệ pháp luật nói chung, các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật bao giờ cũng nhằm đạt được lợi ích nhất định, lợi ích mà chủ thể của quan hệ pháp luật nhằm đạt được có thể là lợi ích vật chất, hoặc lợi ích phi vật chất.
Trong quá trình tố tụng, mọi hành vi tố tụng của các chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng đều nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Khách thể của quan hệ pháp luật tố tụng là đối tượng xem xét của Tòa án do các đương sự đặt ra và mong muốn được Tòa án giải quyết.
Ví dụ: Chi cục thú y thành phố X lập biên bản thu giữ mười (10) con lợn của ông A (ông A là lái buôn lợn), và ra Quyết định số 100/QÐ-TY xử lý bằng hình thức luộc chính 10 con lợn này (toàn bộ phủ tạng, đầu, móng của chúng được thiêu hủy bằng xăng) vì cho rằng những con lợn này mang bệnh Y. Ông A khiếu nại Quyết định này. Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Chi cục thú y, ông A khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân thành phố X. Ông cho rằng Quyết định 100/QÐ-TY trái pháp luật (vì lợn ông không mắc bệnh), và yêu cầu Tòa án phán quyết buộc Chi cục thúy y phải bồi thường thiệt hại cho ông.
Ở dụ này, Quyết định số 100/QÐ-TY là đối tượng xét xử của Tòa hành chính, còn khách thể của tranh chấp này là tính hợp pháp hay không hợp pháp của Quyết định 100/QÐ-TY.
Vậy, khách thể của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính là các quan hệ pháp luật về nội dung đang có tranh chấp, mà Tòa án cùng các chủ thể khác đều nhằm vào để giải quyết./.
Tài liệu tham khảo:
1) Hiếnphápnăm1992đượcsửađổi,bổsungnăm2001;
2) LuậtTổchứcToàánnhândânnăm2002;
3) Luậttốtụnghànhchínhnăm2010(cóhiệulựcngày01/7/2011).

About these ads
This entry was posted in Luật tố tụng hành chính. Bookmark the permalink.